Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Bản thảo Voynich: Vì sao nhìn thấy chữ vẫn chưa thể đọc được?

· Bí ẩn

Minh họa AI: một bản thảo cổ mở trên bàn lưu trữ, với ký hiệu bí ẩn cùng họa tiết thực vật và thiên văn mang tính khái niệm, không phải ảnh tư liệu hay bản sao chính xác.
Minh họa AI, không phải ảnh tư liệu hay bản phục dựng khoa học chính xác.

Một trang sách phủ kín những hàng chữ ngay ngắn thường tạo cảm giác rằng ý nghĩa đang ở rất gần: chỉ cần tìm đúng bảng chữ cái hoặc đúng chiếc khóa. Bản thảo Voynich đặc biệt hấp dẫn vì nó vừa giống một cuốn sách có tổ chức, vừa từ chối mọi cách đọc đã được chấp nhận. Những hình cây, ngôi sao, bồn tắm và rễ thảo dược dường như đưa ra manh mối, nhưng không manh mối nào tự động biến các ký hiệu thành ngôn ngữ có nghĩa. [s1] [s2]

Câu hỏi quan trọng vì thế không chỉ là “Voynich viết gì?”, mà còn là “chúng ta thực sự biết được đến đâu?”. Muốn trả lời thận trọng, cần tách ba việc thường bị nhập làm một: xác định niên đại của vật liệu, nhận diện chủ đề hình vẽ và giải mã văn bản. Mỗi việc sử dụng một loại bằng chứng khác nhau; hoàn thành một bước không đồng nghĩa đã vượt qua hai bước còn lại.

Một vật thể cũ chưa chắc mang một thông điệp đã hiểu

Beinecke MS 408 là mã lưu trữ của bản thảo Voynich tại Yale. Thư viện Beinecke cho biết các kiểm tra khoa học trên vật liệu phù hợp với những bản thảo được sản xuất trong thế kỷ XV. Tuy nhiên, mốc tuổi của vật liệu không tự xác nhận thời điểm toàn bộ nội dung được viết, càng không xác định tác giả hay ngôn ngữ. Vì vậy, cần phân biệt kết quả kiểm tra vật thể với các giả thuyết về lịch sử tạo tác. [s1]

Niên đại vật liệu trả lời câu hỏi “thứ dùng để làm cuốn sách thuộc thời nào” tốt hơn câu hỏi “ai đã viết gì”. Về logic, một bề mặt có tuổi phù hợp với một giai đoạn vẫn có thể chứa nội dung được tạo theo nhiều mục đích khác nhau. Ngay cả khi thời gian sản xuất được thu hẹp, người nghiên cứu vẫn phải xác định hệ ký hiệu, quy tắc ghép dấu và mối liên hệ giữa dấu viết với nghĩa. Không có bước nào trong số đó xuất hiện sẵn trong kết quả kiểm tra vật liệu.

Hình quen thuộc chỉ cho biết vùng chủ đề

Các hình minh họa cho phép chia bản thảo thành sáu nhóm nội dung biểu kiến: mẫu cây; hình thiên văn và chiêm tinh; cảnh bồn tắm và tắm rửa; các hình tròn mang tính vũ trụ học; dược liệu với thảo mộc, rễ cây; cùng một phần chữ không có minh họa lớn, có thể là công thức, trong đó mỗi mục được đánh dấu bằng hình giống bông hoa hoặc ngôi sao. Đây là mô tả những gì nhìn thấy, không phải bản dịch. [s1]

Khoảng cách giữa nhận diện và đọc hiểu rất dễ bị bỏ qua. Ta có thể nhìn một hình và tạm gọi nó là “cây”, nhưng chưa biết đó là loài thực vật có thật, hình ghép, biểu tượng hay công cụ ghi nhớ. Tương tự, hình ngôi sao có thể gợi đến bầu trời mà không cho biết đoạn chữ bên cạnh là tên thiên thể, lịch, chỉ dẫn hay một nội dung hoàn toàn khác. Hình ảnh giúp hình thành câu hỏi, nhưng không tự cung cấp đáp án.

Trông giống chữ không đồng nghĩa là ngôn ngữ đã biết

Văn bản được viết bằng một hệ chữ chưa được nhận diện và tác giả cũng chưa rõ. Theo nhà ngôn ngữ học Claire Bowern, bản thảo gây khó khăn vì những chủ đề có vẻ quen thuộc lại được trình bày theo cách rất lạ, trong khi mỗi giả thuyết phải dựa trên quá nhiều giả định. Ngôn ngữ học vẫn có thể phát hiện các mẫu phân bố của “từ” dù chưa biết nghĩa; nghiên cứu chữ viết cổ còn gợi ý rằng năm người đã cùng chép cuốn sách. [s2]

Nhận ra mẫu lặp mới chỉ là nhận ra cấu trúc. Chẳng hạn, trong một ví dụ giả định, nếu một cụm ký hiệu thường đứng cạnh hình rễ cây, ta có thể nghi nó liên quan đến bộ phận của cây. Nhưng cụm đó cũng có thể chỉ liều lượng, thao tác, tiêu đề hoặc dấu phân loại. Muốn chọn giữa các khả năng, cần một phép kiểm tra độc lập và có thể áp dụng nhất quán cho nhiều trang, thay vì chọn vài trường hợp vừa khớp với lời giải mong muốn.

Giải mã đòi hỏi nhiều hơn một câu đọc có vẻ hợp lý

Các cách tiếp cận mật mã đến nay chưa giải được văn bản, với điều kiện bản thảo thực sự có mã hóa. Mệnh đề sau đặc biệt quan trọng: chưa biết hệ chữ này che giấu một ngôn ngữ bằng mật mã, ghi trực tiếp một ngôn ngữ chưa nhận diện, dùng một quy ước riêng, hay thuộc một khả năng khác. Gọi mọi ký hiệu khó hiểu là “mật mã” đã ngầm chọn lời giải trước khi chứng minh bản chất của bài toán. [s1]

Một đề xuất giải mã đáng tin phải làm được nhiều việc cùng lúc. Nó cần nêu quy tắc chuyển đổi rõ ràng, giải thích vì sao cùng một dấu được xử lý nhất quán, tạo ra nội dung có cấu trúc trên phạm vi rộng và chịu được việc kiểm tra ở những đoạn chưa dùng để xây dựng giả thuyết. Nếu người giải được phép đổi giá trị ký hiệu tùy câu, thêm bớt dấu hoặc chỉ chọn những đoạn thuận lợi, hầu như bất kỳ kết quả nào cũng có thể được làm cho có vẻ hợp nghĩa.

Lịch sử sở hữu không phải chìa khóa nội dung

Bản thảo xuất hiện trên thị trường sách hiếm năm 1912 qua nhà buôn sách Wilfrid M. Voynich, người đã mua nó từ một cơ sở của Dòng Tên gần Rome. Dấu vết sở hữu trước đó dẫn qua một số nhân vật châu Âu, nhưng việc gán tác phẩm cho Roger Bacon chỉ là suy đoán, còn mối liên hệ được đề xuất với John Dee cũng bị nghi ngờ nghiêm trọng. Những tên tuổi nổi tiếng trong hành trình của cuốn sách không chứng minh ai là tác giả. [s1]

Nguồn gốc lưu truyền và nguồn gốc nội dung là hai câu hỏi liên quan nhưng không đồng nhất. Một chuỗi chủ sở hữu có thể giúp xác định cuốn sách từng ở đâu, song người sở hữu không nhất thiết đọc được, tạo ra hay thậm chí hiểu đúng nó. Uy tín của một nhân vật lịch sử cũng không thể thay thế bằng chứng nằm trong chính vật thể và văn bản. Đây là lý do các câu chuyện hấp dẫn quanh Voynich cần được tách khỏi kết luận có thể kiểm chứng.

Điều bí ẩn thật sự nằm ở giới hạn bằng chứng

Bản thảo hiện thuộc Thư viện Beinecke của Đại học Yale. Do vật thể nguyên gốc dễ tổn thương, quyền tiếp cận bị hạn chế, nhưng ảnh độ phân giải cao của toàn bộ bản thảo được cung cấp trong thư viện số. Điều đó mở rộng khả năng quan sát từng trang, không đồng nghĩa mọi người quan sát sẽ đi đến cùng một cách diễn giải. Yale cũng cho biết thư viện không có nhiệm vụ hệ thống hóa hoặc đánh giá mọi giả thuyết gửi đến. [s1]

Voynich vẫn chưa có lời giải được xác nhận không phải vì cuốn sách hoàn toàn không cung cấp thông tin. Ta có thể mô tả vật liệu, bố cục, hình ảnh, mẫu ký hiệu và lịch sử lưu truyền với những mức chắc chắn khác nhau. Bí ẩn xuất hiện ở bước nối các lớp thông tin ấy thành một cách đọc duy nhất mà không phải chồng thêm giả định. Nhìn thấy chữ là quan sát được dấu vết; đọc được chữ là chứng minh được quy tắc và nghĩa. Khoảng cách giữa hai việc đó chính là phần chưa biết.