Sutton Hoo: người tự học và con tàu biến mất dưới gò đất nước Anh

Năm 1939, Basil Brown lần theo năm chiếc đinh tán sắt rỉ sét trong cát; cùng người làm vườn và người giữ thú săn, ông nhận ra hình dáng một con tàu lớn dưới gò đất. Dấu tích trải dài tới 27,3 mét, với bề ngang rộng nhất 4,5 mét. Gỗ nguyên gốc đã biến mất, nhưng những vệt cát đổi màu vẫn lưu lại nhiều chi tiết cấu trúc, còn gần như toàn bộ đinh tán sắt nằm ở vị trí cũ. [9][4]
Trong Gò 1, nơi Brown cùng những người làm việc tại Sutton Hoo phát hiện hình dáng con tàu, dấu vết của vật liệu đã mất và những bộ phận còn sót lại giúp nhận ra cấu trúc ban đầu. Con tàu đóng bằng ván chồng, với chín dải ván mỗi bên. [9][4]
Những bóng người trên gò đất
Basil Brown đến với những gò đất ở Sutton Hoo nhờ sự bảo trợ của chủ đất Edith Pretty. Bên cửa sông Deben chịu thủy triều, gần Woodbridge thuộc Suffolk, Anh, địa điểm này gồm hai nghĩa địa Anglo-Saxon từ thế kỷ VI–VII. Những gò đất dành cho các cuộc chôn cất riêng, cùng đồ vật biểu thị sự giàu có hoặc uy thế đặc biệt của người nằm dưới mộ. [1]
Phần lớn các gò mộ đã bị cướp, chủ yếu dưới thời Tudor, dù một số vẫn còn nguyên. Đến thế kỷ XX, các nhà khảo cổ từng cho rằng Sutton Hoo chẳng còn gì quan trọng. [7][9]
Bà Pretty, một góa phụ giàu có, sở hữu trang trại vào thập niên 1930 và quan tâm đến thuyết duy linh. Trên điền sản Sutton Hoo, khoảng 18 gò cổ khiến bà tò mò. Giai thoại kể rằng vào một đêm, bà nhìn thấy những bóng ma đi trên gò lớn nhất. Lời kể về những bóng người ấy chưa được kiểm chứng. [9][2]
Năm 1937, tại một hội hè ở Woodbridge, bà đem chuyện mở các gò mộ ra bàn với Vincent B. Redstone. [9][2]
Tháng 7 năm 1937, Redstone, người từng bàn với Pretty về việc mở các gò mộ, mời Guy Maynard đến gặp bà. Trong cuộc gặp, Maynard đề nghị mời Basil Brown khai quật. Bà Pretty sẽ bảo trợ cho công việc của ông tại Sutton Hoo, còn người nhận phần đào xuống những gò mộ là một nhà khảo cổ tự học. [2][1]
Người thợ tự học với hai bảng lương
Từ năm lên năm, Basil Brown đã nghiên cứu những cuốn sách thiên văn do ông nội để lại; đến năm 12 tuổi, ông nghỉ học để làm việc trên trang trại của cha. [2]
Năm 1907, ông nhận bằng loại xuất sắc về thiên văn, địa lý và địa chất qua học hàm thụ, tức học từ xa bằng tài liệu và bài tập trao đổi. Ông còn tự học tiếng Latin bằng sách và chương trình phát thanh, đồng thời học nói tiếng Pháp thành thạo. [2]
Thiên văn cũng trở thành công việc viết sách: ông bắt đầu viết *Astronomical Atlases, Maps and Charts* năm 1928 và xuất bản năm 1932. Nhưng cuốn sách ra đời giữa lúc sinh kế vẫn gắn với một trang trại nhỏ; năm 1934, ông phải bỏ trang trại vì nơi ấy không còn đủ sức nuôi sống gia đình. [2]
Cũng trong năm 1934, ông phát hiện và khai quật một lò nung La Mã tại Wattisfield, rồi đưa thành công lò nung tới Ipswich Museum năm 1935. Hợp đồng đầu tiên với bảo tàng và Suffolk Institute kéo dài 13 tuần, trả hai bảng mỗi tuần: kiến thức về đất đai lúc này đi cùng một công việc có hiện vật cụ thể và tiền công. [2]
Tuy vậy, từ năm 1935, tiền công khảo cổ của ông chỉ là một bảng mười shilling mỗi tuần, thấp hơn mức lương tối thiểu nông nghiệp. Ông phải tiếp tục làm đại lý bảo hiểm để bổ sung thu nhập. Người thường bị gọi là nhà khảo cổ nghiệp dư ấy có hơn 30 năm làm nhân viên khai quật được trả công cho một bảo tàng địa phương. [2]
Khi hàng đinh tán gọi giới chuyên môn đến
Basil Brown chạm tới một phòng mộ còn nguyên, đầy kho báu. British Museum được gọi đến sau phát hiện ấy. Khi tầm quan trọng của Sutton Hoo trở nên rõ ràng, các học giả cấp quốc gia tiếp quản cuộc khai quật. [1][9]
Đội khảo cổ làm việc cả ngày lẫn đêm dưới sự bảo vệ của cảnh sát. Họ đang khai quật một trong những ngôi mộ giàu nhất Bắc Âu. [9]
Về sau, phim The Dig khắc họa sự đối đầu giữa Brown và giới khảo cổ hàn lâm. Ken Stott thể hiện Charles Phillips như một nhân vật biếm họa của giới khảo cổ hàn lâm; giới chuyên môn trong phim coi Brown gần như chỉ là người làm công việc đào đất. Bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết lịch sử của John Preston, qua kịch bản của Moira Buffini. [10]
The Dig đặt cuộc khai quật vào thời điểm ngay trước Thế chiến thứ hai, đồng thời đưa vào tuyến tình cảm có người phi công Rory Lomax, một nhân vật hư cấu. [10]
Những miếng vá trên thân tàu khiến nhóm nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng con tàu từng phục vụ việc đi lại, thay vì chỉ được đóng riêng để chôn cất. Nhóm nghiên cứu cũng cho rằng con tàu có thể cần tới 40 người chèo. [4]
Con tàu không còn gỗ
Con tàu trong cuộc khai quật của Basil Brown còn có thể được tìm hiểu qua một bản sao tỷ lệ một phần hai. Thử nghiệm cho thấy kiểu tàu ấy đặc biệt thích hợp với sông nông và vùng ven biển. Nhưng hành trình tới hố chôn buộc người làm tang lễ đưa tàu ra khỏi mặt nước: họ phải kéo tàu khoảng 700 mét từ sông Deben vào đất liền. [4]
Thời gian và sức nặng của khối đất phía trên đã nén các đồ vật trong mộ vào lớp cát nâu đỏ. Giữa tàu, một hình chữ nhật sẫm màu đánh dấu phòng mộ đã hư hại. [4]
Cuộc khai quật năm 1939 không tìm thấy dấu vết thi thể. Sự vắng mặt ấy từng dẫn tới ý kiến rằng đây có thể là một ngôi mộ tưởng niệm, nơi con tàu được chôn xuống mà không chứa người chết. [4][3]
Mẫu đất lấy năm 1967 mang lại một hướng giải thích khác. Kết quả phân tích phosphate ủng hộ khả năng từng có thi thể trong mộ, rồi thi thể phân hủy hoàn toàn trong môi trường rất axit. [3]
Phòng mộ vẫn giữ lại bộ phụ kiện trang phục bằng vàng và đá quý, mũ trụ nghi lễ, khiên, kiếm, đàn lyre và đồ bạc Đông La Mã. Giữa những vật ấy có khóa bằng vàng nguyên khối, móc vai, phụ kiện đai nạm đá và tráng men, cùng nắp túi bằng vàng, garnet và men. [1][9]
Chiếc túi có 37 đồng vàng
Nhóm đồ vàng ấy có lẽ do cùng một người làm ra và thuộc hàng xuất sắc nhất cùng loại. [9]
Trong mộ còn có những món đồ xa xỉ đến từ Rome, Byzantium và Bắc Phi. Bên cạnh ba bát treo là những món đồ bạc Byzantine cầu kỳ; vải từ Levant cũng hiện diện giữa đồ tùy táng. [9][7][4]
Mũ trụ và khiên lại hướng sự chú ý về miền đông Thụy Điển. Những món đồ này có điểm tương đồng với hiện vật trong các mộ thuyền cùng thời tại Vendel và Valsgärde. [4]
Dưới chiếc nắp nạm đá quý là 37 đồng vàng tremisses Merovingian từ Francia, cùng ba phôi cỡ đồng xu và hai thỏi kim loại. Phần đựng tiền cũng mang đá quý. [3]
Các đồng tiền nhận diện được đều đúc ở những xưởng khác nhau, sau khoảng năm 595 và có lẽ trước khoảng năm 640. Đồng đúc muộn nhất xác lập mốc sớm nhất mà đồng tiền ấy có thể được đưa vào mộ: cuộc chôn cất phải diễn ra sau khi đồng tiền ra đời. Niên đại các đồng tiền giúp thu hẹp danh sách những người có thể là chủ mộ. [3]
Điều ít ai biết về «Thời kỳ Đen tối»
Rædwald là người có khả năng cao nhất nằm trong mộ thuyền, nhưng danh sách những vị vua có thể là chủ mộ còn có Eorpwald cùng hai đồng vương Sigebert và Ecric. Eorpwald mất năm 627/628; Sigebert và Ecric tử trận khi giao chiến với Penda của Mercia năm 637. [1][3]
Sự khác biệt còn nằm ở đức tin. Rædwald cải sang Kitô giáo rồi từ bỏ đức tin ấy; ông vẫn duy trì bàn thờ ngoại giáo sau khi cải đạo. Sigebert lại là một tín đồ Kitô giáo mộ đạo. Ý kiến về chủ mộ chia rẽ giữa hai vị vua có đời sống tôn giáo khác nhau này. [3][7]
Gò 1 cũng có thể thuộc về một người trong hoàng tộc, hoặc một thành viên quyền thế của gia đình địa vị cao. Chưa ai biết lễ chôn cất một nhà vua thời ấy phải có hình thức ra sao để xác định danh tính từ cách mai táng. Trong khi tên người chết còn bỏ ngỏ, đồ tùy táng gợi ra khả năng người tổ chức tang lễ đã chọn những vật quen thuộc, để người chết mang theo sang thế giới bên kia. [3]
Qua những món đồ đặt bên người chết, mức giàu có và tinh tế trước đó chưa từng được gắn với người Anglo-Saxon hiện ra, vượt xa hình dung về một đời sống thô sơ. [3][7]
Sự đa dạng của đồ tùy táng còn gợi ra mạng lưới giao thương rộng lớn. Người sử dụng những món đồ ấy sống trong một thế giới có nhiều mối liên hệ văn hóa, thay vì một xã hội mắc kẹt trong «Thời kỳ Đen tối». Ngay cả những cục đen giống hắc ín trong mộ cũng kể cùng một câu chuyện. Phân tích năm 1970 gọi chúng là «Stockholm tar» làm từ gỗ thông, và người ta hiểu đó là vật liệu sửa tàu cho chuyến đi sang thế giới bên kia. Nghiên cứu năm 2016 cho thấy chúng thực ra là bitumen từ Trung Đông: bằng chứng vật chất đầu tiên về loại bitumen này đi qua Địa Trung Hải tới quần đảo Anh. [7]
Sự thật và lời đồn dưới những gò đất
Những hiện vật dưới các gò đất gợi lại đại sảnh trong *Beowulf*, nơi lòng hiếu khách của một lãnh chúa giữ vị trí quan trọng. Bài thơ được chép lại vài thế kỷ sau lễ chôn cất ở Sutton Hoo, nhưng vẫn tái hiện sinh động một thời đại anh hùng trước đó. [7][3]
Một giả thuyết đặt đại sảnh ấy dưới ngôi nhà thời Edward của Edith Pretty. Nhà khảo cổ Angus Wainwright cho rằng công trình dành cho giới quyền quý có thể nằm tại đó, dù phần kiến trúc này chưa được khai quật. [9]
Hội đồng xét xử kho báu xác định toàn bộ hiện vật thuộc về Edith Pretty. Bà sau đó tặng toàn bộ kho báu cho quốc gia, để những món đồ tìm thấy trên điền sản rời khỏi quyền sở hữu riêng và bước vào các bộ sưu tập công cộng. Năm mươi năm sau, hậu duệ của bà trao ngôi nhà cùng địa điểm Sutton Hoo cho National Trust. [9]
Ngày nay, National Trust quản lý địa điểm, còn British Museum giữ phần lớn hiện vật tìm được. Bảo tàng cho mượn một phần kho báu để trưng bày tại nơi du khách có thể nhìn ra các gò mộ. Ngày 13 tháng 3 năm 2002, Seamus Heaney khai trương trung tâm khách tham quan trị giá năm triệu bảng. [1][9]
Sutton Hoo hôm nay vẫn chưa khép lại
Năm 2000, trong lúc chuẩn bị xây trung tâm khách tham quan, người ta phát hiện một nghĩa địa thứ hai cách các gò đầu khoảng 500 mét về phía thượng lưu. Năm 2002, một phần ba địa điểm vẫn chưa được khai quật. [1][9]
Năm 1986, một người nông dân mắc chiếc xô vào bừa trên cánh đồng gần đó; nhiều mảnh khác được tìm thấy năm 2012 và sau đó. Trên thân xô có khắc lời chúc sức khỏe và nhiều năm hạnh phúc. Chiếc xô làm bằng hợp kim đồng, bên ngoài trang trí cảnh săn bắn, còn phần đáy chứa xương người và động vật đã hỏa táng. Helen Geake, chuyên gia Anglo-Saxon, mô tả hiện vật ấy như sự pha trộn giữa một vật chứa đến từ thế giới cổ điển phương nam và hài cốt hỏa táng Germanic phương bắc. [8]
Nguồn
- Sutton Hoo (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Basil Brown (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- British Museum - Who was buried at Sutton Hoo? (web.archive.org, nguồn gốc)
- Identification, Geochemical Characterisation and Significance of Bitumen among the Grave Goods of the 7th Century Mound 1 Ship-Burial at Sutton Hoo (Suffolk, UK) - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
- Aspects of Anglo-Saxon archaeology : Sutton Hoo and other discoveries : Bruce-Mitford, Rupert Leo Scott, 1914-1994 : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
- The Sutton Hoo ship-burial : Bruce-Mitford, Rupert Leo Scott, 1914-1994 : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
- Sutton Hoo | Lost in the Myths of Time (web.archive.org, bài viết)
- Sutton Hoo Byzantine bucket believed to be cremation vessel - BBC News (www.bbc.co.uk, bài viết)
- Sutton Hoo lays out its treasures | UK news | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
- The Dig review – a quiet meeting of minds at Sutton Hoo | Period and historical films | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
Ảnh minh họa do AI tạo, không phải ảnh tư liệu; không mô tả khuôn mặt người thật.