Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Đến Nam Cực sau đối thủ 34 ngày, vì sao đoàn thám hiểm của Robert Scott gục ngã trên đường về?

· Khám phá

Robert Falcon Scott · Nam Cực: Năm thành viên đoàn thám hiểm Robert Scott thiệt mạng trên đường về từ Nam Cực.
Ảnh bìa: minh họa do AI tạo, kèm chữ; không phải ảnh tư liệu, không mô tả khuôn mặt người thật.

Ngày 17 tháng 1 năm 1912, Robert Falcon Scott cùng bốn bạn đồng hành đặt chân tới Nam Cực địa lý. Không có đỉnh vinh quang nào chờ đón những người đàn ông nước Anh ở tận cùng Trái Đất. Giữa khoảng trắng mênh mông, đập vào mắt họ là một chiếc lều vải cùng lá cờ Na Uy dựng sẵn, nơi đối thủ để lại làm chỗ trú chân cho người đến sau. [2][9]

Chủ nhân của lá cờ ấy, Roald Amundsen cùng bốn đồng đội, đã cán đích từ ngày 14 tháng 12 năm 1911, sớm hơn Scott tròn 34 ngày. Đội của Amundsen sau đó trở về căn cứ an toàn và phải khoảng một năm sau mới biết toàn bộ năm người trong đội tới cực của đối thủ đã chết trên đường về. Tám tháng sau ngày thảm kịch khép lại, đội tìm kiếm mới phát hiện một số thi thể của họ giữa lớp tuyết dày, bên cạnh những cuốn nhật ký và các bức ảnh ghi lại chặng đường định mệnh. [1][2]

Điều gì trong những toan tính chiến lược, trong cách chuẩn bị phương tiện và đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt đã đẩy hai đoàn thám hiểm lừng danh về hai kết cục trái ngược đến nghiệt ngã? [1][2]

Cú đổi hướng bí mật và phát súng lệnh của cuộc đua

Khi lên kế hoạch cho chuyến đi, Robert Falcon Scott vạch ra một lộ trình mang nặng trách nhiệm quốc gia. Trong bản giới thiệu chuyến đi, ông nêu rõ mục tiêu chính là đến Nam Cực và giành vinh quang ấy cho Đế quốc Anh. Song song với mục tiêu đó, Scott muốn tiếp tục công việc nghiên cứu khoa học của chuyến thám hiểm Discovery giai đoạn 1901–1904, đồng thời trở thành người đầu tiên đặt chân tới Nam Cực địa lý. [7][2]

Ở phía bên kia, Roald Amundsen ban đầu lại hướng sự chuẩn bị về cực đối diện của hành tinh. Kế hoạch ban đầu của ông là chinh phục Bắc Cực bằng một chuyến trôi dài trên con tàu bị băng bao quanh. Dẫu vậy, Amundsen quyết định giữ bí mật về mục tiêu Nam Cực vì không chắc công chúng và các nhà tài trợ sẽ tiếp tục ủng hộ. [1]

Sự thận trọng đó bắt nguồn từ những ràng buộc tài chính và chính trị phức tạp. Theo David Crane, tiền tài trợ từ cả nguồn công lẫn nguồn tư đều được dành riêng cho nghiên cứu Bắc Cực, nên không có bảo đảm nào cho thấy các nhà tài trợ sẽ chấp nhận việc đổi đích. Việc đổi mục tiêu còn có nguy cơ khiến Nansen thu hồi lại con tàu Fram, hoặc Quốc hội đình chỉ chuyến đi vì lo ngại xúc phạm người Anh. Trước những rủi ro đó, Amundsen chỉ tiết lộ ý định đổi đích cho hai người: em trai Leon và phó chỉ huy Nilsen. [1]

Toan tính được giữ kín ngay trên chính con tàu thám hiểm. Khi khởi hành vào tháng 6 năm 1910, Amundsen khiến ngay cả thủy thủ đoàn tin rằng họ sắp thực hiện chuyến trôi ở Bắc Cực. Chỉ đến khi tàu Fram rời Madeira vào ngày 9 tháng 9 năm 1910, Amundsen mới chính thức công bố đích đến thật sự trước các thuyền viên. [1]

Dù vậy, theo Heather Lane, khi biết kế hoạch của Na Uy, Scott quyết định rõ ràng vẫn giữ chương trình khoa học đã định. [7]

Chó kéo xe đối đầu ngựa lùn và xe bánh xích

Đoàn thám hiểm Terra Nova của Robert Falcon Scott vẫn mang theo chó kéo xe do Dimitri Gerov điều khiển, bên cạnh người chăm sóc ngựa Anton Omelchenko. Dù vậy, theo một cách kể lan truyền từ bài viết trên La Aldea Irreductible, Scott đã dùng ngựa lùn Siberia thay vì mang theo chó. Trong điều kiện băng giá, những con ngựa lùn nhanh chóng lún chìm trong tuyết sâu và da bị đóng băng do cơ chế đổ mồ hôi khắp thân. Scott còn đem theo ba chiếc xe bánh xích, nhưng chúng lần lượt hỏng hóc ngay gần đầu hành trình và đành phải bỏ lại. [2][9]

Ở phía đối diện, Roald Amundsen bước vào cuộc đua với hành trang đúc kết từ những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Đầu năm 1898, con tàu Belgica chở ông từng bị lớp băng dày giam giữ gần một năm tại biển Bellinghausen. Mùa đông bất đắc dĩ đó biến thành thử thách tàn khốc với tình trạng trầm cảm, cận kề cái chết đói, mất trí và bệnh scorbut bùng phát trong thủy thủ đoàn. Ông đã tận dụng chính trải nghiệm trên tàu Belgica để học hỏi kỹ thuật thám hiểm cực, đặc biệt chú trọng tới trang bị hỗ trợ, quần áo và chế độ ăn. [1]

Mỗi khi không đi biển, Amundsen lại dốc sức luyện trượt tuyết băng đồng giữa môi trường khắc nghiệt của cao nguyên Hardangervidda. Cùng chung nhận định với Fridtjof Nansen rằng ván trượt và chó kéo xe là phương tiện Bắc Cực hiệu quả nhất, ông quyết tâm tuyển mộ những người điều khiển chó giỏi nhất. [1]

Đàn chó không chỉ cung cấp lực kéo cơ động; thành viên Hassel sau này khẳng định họ không thể thành công nếu thiếu chó, kể cả khi phải xét đến giá trị của chúng như một nguồn thực phẩm trên đường. [1][6]

Chặng vượt sông băng và cú sốc dưới chân cột cờ

Từ căn cứ Framheim đặt tại Vịnh Cá Voi trên Great Ice Barrier, Roald Amundsen đã dồn toàn lực cho hành trình quyết định. Trước khi lên đường vào tháng 10 năm 1911, đội thám hiểm Na Uy đã trải qua nhiều tháng chuẩn bị, tổ chức lập các kho dự trữ và từng nếm trải một lần xuất phát hụt suýt biến thành thảm họa. Cuộc khởi hành chính thức bắt đầu vào ngày 20 tháng 10 năm 1911, với 13 con chó cho mỗi cỗ xe trượt và duy trì tốc độ khoảng 13 hải lý mỗi ngày. [1][9]

Để tiến lên cao nguyên cực, đội của Amundsen phát hiện ra sông băng Axel Heiberg và sử dụng chính địa hình này làm đường vượt. Lộ trình chuẩn xác đưa năm người đầu tiên đặt chân tới điểm Nam Cực gồm Hassel, Amundsen, Hanssen, Bjaaland và Wisting. Khi đến gần đích, Hassel kể lại rằng thời tiết ở đây rất đẹp, thậm chí ông từng thấy cái lạnh ở Kristiania còn buốt giá hơn. [1][6]

Ở phía ngược lại, Robert Falcon Scott bước vào chặng leo dốc với gánh nặng từ thành tích của người đồng hương Ernest Shackleton. Trước chuyến Terra Nova, chính Shackleton đã tìm ra con đường qua sông băng Beardmore để lên cao nguyên cực, rồi buộc phải quay về tại vĩ độ 88°23′ Nam khi chỉ còn cách mục tiêu khoảng 180 km. Việc Shackleton dùng McMurdo Sound làm căn cứ từng làm quan hệ giữa hai người xấu đi, đồng thời càng hun đúc quyết tâm của Scott trong việc phải vượt qua kỷ lục dang dở đó. [2]

Thế nhưng, khi Scott cùng các đồng đội tiến đến điểm cực Nam, dấu vết của đối thủ đã hiện diện từ trước. Về khoảng cách thời gian giữa hai đoàn thám hiểm, các tư liệu ghi nhận con số vênh nhau: BBC ghi đội Scott bị đối thủ Na Uy vượt trước 33 ngày, trong khi El Mundo ghi nhận đội Na Uy đã cắm cờ trước tới 35 ngày. [7][8]

Đường về trong bão tuyết và bước chân cuối cùng của Oates

Sau cú sốc tại cột mốc cực Nam, chặng đường rút lui của năm người đàn ông nhanh chóng biến thành cuộc vật lộn tuyệt vọng giữa băng tuyết. Ngày 11 tháng 2, đội của Robert Falcon Scott đi nhầm vào một vùng băng cực kỳ gồ ghề, khiến cả nhóm bị mắc kẹt và phải di chuyển vòng quanh suốt hai ngày. Thể lực suy sụp cùng điều kiện địa hình trắc trở khiến đội hình không thể duy trì tốc độ ban đầu. Đến ngày 16 tháng 2, Evans tụt lại phía sau với lý do cần chỉnh lại giày; khi những người đồng đội quay lại tìm kiếm, anh đã quỳ gục bất động giữa nền tuyết lạnh giá. [9]

Thảm kịch tiếp tục siết chặt lấy những người còn lại khi thời tiết Nam Cực tàn phá cơ thể họ từng ngày. Bước sang đầu tháng 3, bàn chân của Oates đã chuyển sang màu đen và vết hoại thư lan rộng. Thấu hiểu gánh nặng đang đè lên vai cả nhóm, ngày 16 tháng 3, Oates chủ động xin đồng đội bỏ mình lại để tiếp tục hành trình, nhưng nhóm của Scott kiên quyết từ chối. Không muốn kéo lùi cơ hội sống sót của mọi người, Oates quyết định tự mình bước ra khỏi căn lều giữa cơn bão tuyết ở mức nhiệt −45°C và vĩnh viễn không bao giờ trở lại. [9]

Mất đi hai thành viên, ba người còn lại là Scott, Wilson và Bowers chỉ còn biết bám víu lấy nhau trong căn lều mỏng manh giữa cơn bão tuyết gầm thét. Trên đường trở về, họ kiệt quệ rồi trút hơi thở cuối cùng vì đói và phơi nhiễm thời tiết khắc nghiệt. Cả ba người gục ngã ở vị trí chỉ cách trại căn cứ 15 km, trong cảnh ngộ mà sự thờ ơ hoàn toàn dường như đã chiếm lấy những tâm trí và thể xác cùng kiệt. Trong những trang nhật ký cuối cùng còn lưu lại, người đội trưởng viết nên lời cầu xin tha thiết gửi về quê nhà: hãy chăm sóc gia đình của họ. [7][8][9]

Gần tám tháng sau, vào ngày 12 tháng 11 năm 1912, đoàn tìm kiếm do Atkinson dẫn đầu mới tiếp cận được căn lều bị tuyết trắng vùi lấp. Tại đây, họ tìm thấy thi thể của Bowers, Wilson và Scott, nằm lại bên cạnh bức thư gửi nhân dân Anh quốc. [9]

Những chiếc răng nứt ở âm 60 độ và gánh nặng mẫu đá

Bên cạnh những thi thể lạnh ngắt trong căn lều bạt vùi sâu dưới tuyết, đội tìm kiếm còn thấy những cuốn sổ ghi chép khoa học cùng nhiều pound mẫu địa chất. Cho đến tận những giờ phút kiệt sức cận kề cái chết trên tấm ván trượt, những người đàn ông của đoàn Scott vẫn kiên quyết kéo theo số mẫu đá này mà không chịu vứt bỏ dọc đường. [7]

Tàu Terra Nova tiến về phương Nam với 12 nhà khoa học trên boong, gồm hai nhà sinh học, ba nhà địa chất và một nhà khí tượng. Trong suốt thời gian thám hiểm, họ đã cần mẫn thu thập mẫu của 2.109 loài động vật khác nhau, trong đó có 401 loài hoàn toàn mới đối với khoa học. Đoàn của ông cũng ghi nhận và xây dựng nên bộ dữ liệu thời tiết Nam Cực đầy đủ đầu tiên, khối tư liệu về sau trở thành cột mốc cơ sở để giới nghiên cứu đối chiếu sự biến đổi thời tiết. [7]

Quyết tâm nghiên cứu ấy từng đẩy các thành viên vào những thử thách sinh tử ngay từ trước chuyến đi tới cực Nam. Một nhóm nghiên cứu đã trải qua năm tuần lặn lội trong bóng đêm vùng cực để tiếp cận đàn chim cánh cụt hoàng đế, thu gom những quả trứng có phôi với niềm tin rằng chúng có thể làm sáng tỏ mối liên hệ tiến hóa giữa loài chim và khủng long. Hành trình lấy trứng phải đối mặt với mức nhiệt hạ xuống tới −60°C, giá lạnh đến mức làm răng của họ nứt toác. Dẫu vậy, những quả trứng thu về sau cùng lại ít mang lại giá trị cho câu hỏi về mối liên hệ giữa chim và khủng long. [7]

Nằm giữa số mẫu vật được tìm thấy là một hóa thạch thực vật giống dương xỉ, bằng chứng gợi ý rằng vào 250 triệu năm trước, khí hậu Nam Cực từng đủ ôn hòa cho cây cối phát triển. Phát hiện thực vật này cùng các bằng chứng khác do đoàn thu thập đã góp phần chỉ ra rằng Nam Cực, Ấn Độ, châu Phi, Australia và New Zealand từng nằm chung trong một siêu lục địa cổ đại. [7]

Phán quyết của lịch sử dưới mái vòm trạm Amundsen-Scott

Trong nhiều năm sau cái chết của Scott, vị thế anh hùng bi kịch của ông hầu như không bị lung lay và rất ít ai đặt câu hỏi về nguyên nhân thực sự dẫn đến thảm họa. Tại Anh, câu chuyện về thất bại anh dũng của ông từng che khuất thành tựu của Amundsen, trong khi việc nhà thám hiểm Na Uy giấu kín kế hoạch tới Nam Cực cũng bị một số người chỉ trích. Phải đến một phần tư cuối thế kỷ XX, khâu tổ chức và phương thức quản lý đoàn thám hiểm Terra Nova mới bị hậu thế đem ra xem xét kỹ lưỡng hơn cùng những đánh giá phê phán. Dù vậy, mức độ trách nhiệm cá nhân của Scott cũng như của một số thành viên trong đoàn vẫn tiếp tục là đề tài gây nhiều tranh cãi. [2][1]

Song song với những chuyển biến đó, giới sử học vùng cực gần đây đã công nhận đầy đủ hơn kỹ năng vượt trội cùng lòng dũng cảm của đội ngũ Amundsen. Về phần Scott, cháu gái của ông là Dafila Scott đã lên tiếng kêu gọi mọi người nhìn nhận di sản của ông trên bình diện rộng lớn hơn, không chỉ dừng lại ở cuộc đua tới cực mà ở cả khối lượng công việc khoa học đồ sộ. Dưới góc nhìn của nhà viết tiểu sử Sir Ranulph Fiennes, Scott vẫn được đánh giá là một người rất thông minh và là nhà thám hiểm vùng cực vĩ đại nhất thế giới. [1][7]

Ngay tại điểm cực Nam địa lý, nơi Scott từng nhìn thấy chiếc lều cùng dấu vết của đối thủ đi trước, một căn cứ khoa học thường trực ngày nay đã mọc lên và mang tên của cả hai người: Amundsen-Scott. Hơn một thế kỷ sau cuộc đua nghẹt thở trên băng tuyết, tên tuổi của vị thuyền trưởng người Anh và nhà thám hiểm Na Uy cùng hiện diện dưới mái vòm giữa hoang mạc trắng. Khát vọng chinh phục của hai đoàn thám hiểm cuối cùng tìm thấy điểm hội tụ bình thản nhất, nơi vinh quang và bi kịch được tạc trọn vẹn bên nhau. [1]

Nguồn

  1. Amundsen's South Pole expedition (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. Terra Nova Expedition (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  3. The coldest March : Scott's fatal Antarctic expedition : Solomon, Susan, 1956- : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
  4. Antarctic destinies : Scott, Shackleton and the changing face of heroism : Barczewski, Stephanie L : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
  5. Fram Museum - Fram Museum (web.archive.org, bài viết)
  6. Fram Museum - Sverre Helge Hassel (web.archive.org, bài viết)
  7. Researchers praise Scott's South Pole scientific legacy - BBC News (www.bbc.com, bài viết)
  8. La verdadera y dram�tica traves�a de los 'H�roes de la Ant�rtida' de Mecano: un fracaso hist�rico que les condujo a la muerte | Celebrities (web.archive.org, bài viết)
  9. Canciones con Historia: Los héroes de la Antártida - La Aldea Irreductible (web.archive.org, bài viết)

Ảnh bìa: minh họa do AI tạo, kèm chữ; không phải ảnh tư liệu, không mô tả khuôn mặt người thật.