Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Edwin Land, câu hỏi của cô con gái 3 tuổi và cuộc cách mạng máy ảnh chụp lấy liền

· Phát minh

Ảnh tư liệu: Edwin Land (Gotfryd, Bernard, photographer · Public domain · Wikimedia Commons)
Ảnh bìa: Gotfryd, Bernard, photographer · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.

Theo hồ sơ từ Trường Kinh doanh Harvard, chuyến đi nghỉ của gia đình khơi nguồn cho ý tưởng chụp ảnh lấy liền diễn ra vào năm 1943. Tại Santa Fe, New Mexico, sau khi một bức ảnh vừa được chụp, Jennifer, cô con gái lớn khi ấy mới tròn ba tuổi, đã cất tiếng hỏi vì sao mình không thể xem ngay tấm hình. Trong hồi tưởng của Edwin Land, câu hỏi ngây thơ ấy xuất hiện bất ngờ ngay giữa kỳ nghỉ. [4][1]

Land kể lại rằng ông lập tức rời đi và bước dạo quanh Santa Fe để tìm lời giải cho bài toán mà con gái vừa đặt ra. Theo hồi tưởng của Land, chỉ trong vòng một giờ đồng hồ rảo bước ấy, ông đã hình dung rõ nét cấu tạo của chiếc máy ảnh, cuộn phim cùng toàn bộ cơ chế hóa lý của hệ thống. Thay cho quy trình tráng rọi ướt phức tạp kéo dài nhiều ngày trong buồng tối, ông đã phác thảo nên nguyên lý của một thiết bị có thể cho ra bức ảnh hoàn chỉnh ngay lập tức. [4]

Donald Brown tình cờ cũng đang có mặt tại Santa Fe vào thời điểm đó. Ngay khi vừa định hình xong giải pháp trong đầu, Land vội vã tìm đến gặp ông để giải thích về ý tưởng một chiếc máy ảnh khô có khả năng cho ảnh ngay sau khi phơi sáng. [4]

Rời Harvard và những đêm đột nhập phòng thí nghiệm

Donald Brown vốn không hề xa lạ với những ý tưởng táo bạo của Edwin Land, bởi cả hai từng cùng nhau nộp đơn xin cấp bằng sáng chế từ hơn một thập niên trước đó. Tham vọng tự mình giải quyết các bài toán quang học của Land thực chất đã nhen nhóm từ năm 1927, khi ông rời Đại học Harvard ngay sau năm thứ nhất để chuyển đến New York. Mục tiêu ban đầu của ông là tìm cách phát triển một bộ lọc chống chói dành cho đèn pha xe hơi. Không trường lớp đỡ đầu, Land dùng phòng đọc của Thư viện Công cộng New York làm nơi nghiên cứu tài liệu, rồi lui về tầng hầm của các căn hộ thuê tạm để tự mày mò điều chế vật liệu phân cực tổng hợp. [3][1][7]

Thiếu thốn trang thiết bị, Land cùng bạn gái Helen Maislen, người thường được gọi là Terre, bí mật lẻn vào phòng thí nghiệm vật lý của Đại học Columbia vào ban đêm để thử nghiệm các vật liệu giảm chói. Năm 1928, ông tìm ra cách dùng từ trường để sắp hàng các tinh thể cực nhỏ trong dung dịch lacquer, định hướng dao động của ánh sáng. Không lâu sau, Land tiếp tục làm chủ kỹ thuật phủ lớp tinh thể cực nhỏ này lên một tấm nhựa mỏng rồi kéo giãn, buộc chúng phải sắp thẳng hàng ngay ngắn trước khi vật liệu kịp khô. [7][3]

Năm 1929 mở ra bước ngoặt lớn khi Land và Terre chính thức kết hôn. Cùng năm đó, ông cùng Donald L. Brown và Julius Silver nộp đơn xin cấp bằng sáng chế đầu tiên cho tấm phân cực. Đây chính là nền tảng dẫn tới bằng sáng chế số 1.918.848 được công nhận vào năm 1933, mở đầu cho bộ sưu tập hơn 500 bằng sáng chế mà Land tích lũy suốt cả cuộc đời. [3]

Tiếng vang từ các phát minh đưa Land trở lại Harvard. Nhờ tầm ảnh hưởng của George W. Wheelwright III, khoa vật lý của trường đã đặc cách cấp cho ông một phòng thí nghiệm riêng khi ông vẫn còn là sinh viên. Thế nhưng, sự nghiệp học thuật quy củ không thể giữ chân một nhà nghiên cứu luôn hướng về ứng dụng thực tế. Năm 1932, Wheelwright đã thuyết phục Land bỏ học đại học trước khi tốt nghiệp để cùng nhau mở công ty. Cũng trong năm 1932, Land và Wheelwright cùng sáng lập nên Land-Wheelwright Laboratories. [3][1]

Cơ sở đầu tiên của Land và Wheelwright vô cùng khiêm tốn, chỉ vỏn vẹn trong một căn phòng ở gara trên đường Mount Auburn tại Cambridge. Dù khởi đầu từ gian nhà xe chật hẹp, Land vẫn thẳng thừng từ chối cơ hội làm việc tại General Electric cũng như Trường Y Harvard. Với ông, không danh tiếng hay sự bảo bọc nào có thể đánh đổi lấy sự tự do và quyền kiểm soát trọn vẹn một công ty nghiên cứu của chính mình. [3]

Mật danh SX-70 và tham vọng nén phòng tối vào lòng bàn tay

Từ gian nhà xe ấy, những mối làm ăn lớn bắt đầu gõ cửa. Năm 1934, Eastman Kodak ký hợp đồng mua bộ phân cực Polascreens từ Land-Wheelwright để làm kính lọc giảm chói cho máy ảnh. Một năm sau, hai nhà sáng lập tiếp tục bắt tay với American Optical để sản xuất kính râm Polaroid Day Glasses. Nhận trọng trách mở rộng thị trường, ông Wheelwright rong ruổi khắp đất nước để diễn thuyết và trình diễn nhằm thuyết phục khách hàng mua các sản phẩm phân cực. Dẫu vậy, nỗ lực đưa vật liệu này vào xe hơi nhanh chóng vấp phải rào cản; theo nhà khoa học Ainissa Ramirez, ngành ô tô không muốn phải gắn phim đặc biệt lên đèn pha và cải tạo các xe khác. Quyết tâm thương mại hóa của Land khi ấy khắc nghiệt đến mức ông từng mặc cùng một bộ quần áo suốt 18 ngày khi giải quyết vấn đề sản xuất phim phân cực thương mại. [3][9][7][1]

Bước ngoặt Thế chiến II nổ ra kéo theo cơ hội lớn khi Polaroid thiết kế và sản xuất thiết bị quan sát đêm hồng ngoại cho quân đội. Vì những hoạt động quân sự này, bộ phận nghiên cứu và kỹ thuật của Polaroid đã mở rộng mạnh mẽ. Song Land không ngủ quên trên các đơn đặt hàng thời chiến. Đến năm 1943, ông bắt đầu nghĩ về hoạt động sản xuất hậu chiến của Polaroid, thấu hiểu rằng bộ máy kỹ thuật mở rộng ấy rất cần một sản phẩm thương mại mới. Nỗi lo của ông thành hiện thực khi chiến sự đi đến hồi kết: doanh thu sụt giảm khiến Land phải cho hàng trăm nhân viên nghỉ việc. [2][4]

Theo luật sư Donald Brown, ngay trước khi chiến tranh kết thúc, Land đã xác định nhiếp ảnh là lĩnh vực chín muồi cho phát minh. Các lá thư từ cuối năm 1943 đã ghi lại những ý tưởng ban đầu cùng việc Land tiết lộ dự án với đồng nghiệp. Trong bức thư đề ngày 27/12/1943, Richard Kriebel ghi lại rằng Land đã tiết lộ về loại phim tự tráng tại nhà từ ngày 10/12/1943. [4]

Chỉ ba ngày sau đó, vào ngày 13/12/1943, Land gọi riêng nhà hóa học Frederick J. Binda ra để kể một bí mật. Theo bản ghi của Binda, Land nói ông đã suy nghĩ và mơ về chiếc máy ảnh xuất ảnh hoàn chỉnh suốt nhiều năm, không chỉ trong giờ đi bộ ở Santa Fe. Binda cũng ghi lại rằng Land tuyên bố lúc ấy đã biết cách làm chiếc máy ảnh mới. [4]

Theo PBS, tháng 12/1943, Land chính thức khởi động dự án bí mật mang mật danh SX70. Thành viên đầu tiên được ông tuyển chọn vào nhóm dự án là nhà nghiên cứu Eudoxia Muller, khi ấy mới 24 tuổi. [7]

Cháy hàng trong một ngày ở Boston và phép màu một phút

Vào thời điểm ấy, chụp ảnh vẫn là một quy trình rườm rà: cuộn phim sau khi phơi sáng phải trải qua các bước tráng, rửa, cố định hóa chất, rửa sạch lần nữa rồi làm khô âm bản. Land mô tả bài toán của mình là thu nhỏ và gom gọn toàn bộ các công đoạn đó vào bên trong một chiếc máy ảnh khô, hoàn toàn không cần bể hóa chất và không cần phòng tối. Thay vì vứt bỏ hoàn toàn kỹ thuật cũ, ông quyết định thích nghi các vật liệu âm bản truyền thống cho nhu cầu mới, hướng tới một quy trình duy nhất tạo ra cả âm bản lẫn dương bản để cho ra bản in khô ráo, ổn định trong thời gian ngắn. [4]

Doanh nghiệp Polaroid Corporation được Land và George W. Wheelwright III thành lập từ năm 1937, tiếp nhận lại toàn bộ tài sản cùng các bằng sáng chế của công ty Land-Wheelwright trước đó lẫn các tài sản mà Land tự phát triển riêng. Khi công ty ngày một lớn lên, các nhóm trợ lý phải chia ca làm việc liên tục bên cạnh Land để guồng máy nghiên cứu không bao giờ ngừng nghỉ. Sau nhiều năm âm thầm làm việc, đến tháng 12 năm 1946, ông thuê một rạp chiếu phim để thông báo riêng với các nhân viên rằng mình đang theo đuổi một dự án bí mật. Ngày 21 tháng 2 năm 1947, Land chính thức bước ra trước Hội Quang học Hoa Kỳ (Optical Society of America) để trình diễn chiếc máy ảnh và loại phim chụp lấy liền. [9][1][7]

Đến tháng 11 năm 1948, Polaroid bắt đầu thương mại hóa mẫu máy Land Camera Model 95 tại cửa hàng bách hóa Jordan Marsh ở thành phố Boston. Chiếc máy ảnh chụp lấy liền này cho phép người sử dụng chụp và tự tráng xong bức ảnh ngay tại chỗ chỉ trong vòng một phút hoặc ít hơn. Ở đợt đầu tiên, Polaroid sản xuất đúng 60 chiếc máy ảnh. Trong số đó, chỉ có 57 chiếc được đưa ra bày bán tại Jordan Marsh trước dịp Giáng sinh năm 1948. [2][1]

Bộ phận tiếp thị của công ty từng dự đoán sai rằng lượng máy và số lượng phim này sẽ đủ bán cho đến khi xưởng hoàn tất đợt sản xuất thứ hai dựa trên nhu cầu. Diễn biến thực tế đã phá vỡ dự tính đó: toàn bộ 57 chiếc máy ảnh cùng toàn bộ số phim mang tới đều được bán sạch ngay trong ngày trình diễn đầu tiên. [1]

Cơn sốt tại Boston nhanh chóng mở đường cho việc phân phối trên diện rộng. Đến năm 1950, khoảng 4.400 đại lý trên khắp Hoa Kỳ đã tham gia bán máy ảnh và phim Polaroid. Cũng trong năm 1950, Polaroid chính thức giới thiệu loại phim chụp lấy liền đen trắng thực sự. [2]

Tuyệt phẩm đút túi áo và đòn trừng phạt Kodak gần một tỷ USD

Năm 1963, Polaroid giới thiệu dòng phim màu chụp lấy liền Polacolor. Trong suốt một thập niên sau đó, doanh số bán phim của hãng tăng vọt gấp sáu lần. Dù vậy, trước khi SX-70 ra đời, người dùng vẫn phải thực hiện các thao tác thủ công: nhả phim, kéo một tab nhỏ rồi bóc phần âm bản ra khỏi bức ảnh dương bản hoàn chỉnh. [2]

Bước ngoặt công nghệ đến vào năm 1972 khi SX-70 trở thành phiên bản đầu tiên loại bỏ hoàn toàn các thao tác trung gian và tự động đẩy ảnh ra ngoài. Đây là chiếc máy ảnh SLR chụp lấy liền tích hợp hoàn toàn đầu tiên sử dụng loại phim integral tự tráng. Toàn bộ quá trình hiện hình diễn ra khép kín ngay trong bản in, tạo ra bức ảnh hoàn chỉnh dưới ánh sáng ban ngày mà người dùng không cần phải can thiệp. Theo PBS, bữa tiệc ra mắt SX-70 diễn ra tại Miami, Florida vào năm 1972. Nghệ sĩ Rhiannon Adam mô tả SX-70 là chiếc máy nhỏ bỏ túi, gấp lại được và cho ra những bức ảnh hoàn hảo. Edwin Land coi việc lãnh đạo quá trình phát triển phim và máy ảnh SX-70 là thành tựu đỉnh cao trong cả cuộc đời mình. [2][7][1]

Để khai mở tiềm năng sáng tạo của phương tiện mới, ông cho các nhiếp ảnh gia sử dụng miễn phí những chiếc máy ảnh khổ lớn để đổi lấy một số bản in, từng bước tạo dựng nên Polaroid Collection. Bộ sưu tập này về sau tích lũy từ 16.000 đến 24.000 bức ảnh, quy tụ tác phẩm của những tên tuổi lớn như Ansel Adams, Chuck Close, Robert Frank và Andy Warhol. Ở giai đoạn đỉnh cao, theo nhà văn Chris Bonanos, Polaroid giúp người dùng tạo ra khoảng một tỷ bức ảnh mỗi năm. Theo nhà văn Ron Fierstein, Steve Jobs coi Edwin Land là thần tượng chính bởi khả năng tạo ra những sản phẩm mà người dùng thậm chí còn chưa biết mình muốn. [1][7]

Thời hoàng kim đó nhanh chóng kéo theo cuộc đối đầu khốc liệt với gã khổng lồ Eastman Kodak. Năm 1976, sau khi Kodak công bố máy ảnh chụp lấy liền của riêng họ, Polaroid đã khởi kiện hãng này vì bị cáo buộc đánh cắp quy trình đã được cấp bằng sáng chế. Vụ kiện xuất hiện ngay giữa lúc thị trường bùng nổ mạnh mẽ, khi tổng doanh số máy ảnh chụp lấy liền tăng vọt từ 7,4 triệu chiếc năm 1976 lên 10,3 triệu chiếc năm 1977 và chạm mốc 14,3 triệu chiếc vào năm 1978. [2]

Trận chiến pháp lý tại tòa án liên bang kéo dài ròng rã suốt 10 năm. Polaroid ban đầu yêu cầu Kodak phải bồi thường khoản tiền lên tới 12 tỷ USD vì hành vi xâm phạm bằng sáng chế. Cuối cùng, tòa xử Polaroid thắng kiện, ra lệnh buộc Kodak phải dừng hoàn toàn việc sản xuất ảnh chụp lấy liền và bồi thường khoản tiền 909,5 triệu USD. [2]

Cú ngã Polavision và ba năm thiêu hủy những trang nhật ký

Năm 1977, Edwin Land giới thiệu máy quay phim gia đình lấy liền Polavision hoạt động dựa trên quy trình Dufaycolor. Thế nhưng, Polavision xuất hiện trên thị trường đúng vào thời điểm các hệ thống dùng băng video đang nhanh chóng trở nên phổ biến. Cú ngã này biến thành một thảm họa tài chính khi công ty phải ghi giảm 89 triệu USD giá trị tài sản, bao gồm phần lớn sản phẩm đã sản xuất ra mà không thể tiêu thụ. Dù Polaroid đạt đỉnh cao nhân sự với 21.000 người vào năm 1978, vị thế của người sáng lập bắt đầu lung lay. Năm 1980, William J. McCune Jr. được bổ nhiệm vào vị trí giám đốc điều hành Polaroid. Sau thảm họa tài chính Polavision, Land bị ép từ chức và phải rời khỏi công ty do chính mình sáng lập sau bốn thập niên làm chủ tịch; ông chính thức từ chức chủ tịch Polaroid vào ngày 27 tháng 7 năm 1982. Rời khỏi thương trường, nhà sáng chế đứng tên trên 535 bằng sáng chế. [2][1]

Trong suốt thập niên 1980, Polaroid chật vật tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường nhiếp ảnh tiêu dùng đang suy giảm đều đặn. Đến tháng 1 năm 1984, công ty thông báo bước vào thị trường video điện tử Mỹ bằng các dòng băng video và đĩa mềm mang nhãn hiệu Polaroid. Cũng trong năm 1984, nhà quản lý Shakeel Mozaffar tuyên bố rằng cuộc cách mạng trong ngành hình ảnh đã buộc Polaroid phải tiến sâu vào lĩnh vực điện tử. Doanh nghiệp chạm đỉnh doanh thu 3 tỷ USD vào năm 1991, nhưng đó cũng là thời khắc chia tay vĩnh viễn với linh hồn của đế chế này. Ngày 1 tháng 3 năm 1991, Land qua đời tại Cambridge, Massachusetts, hưởng thọ 81 tuổi. Sau khi ông mất, gia đình đã cho tiêu hủy toàn bộ giấy tờ và ghi chép cá nhân của ông, một công việc kéo dài suốt ba năm ròng rã. [2][10][1]

Mất đi người kiến tạo, Polaroid Corporation không thể trụ vững trước làn sóng công nghệ mới và phải nộp đơn xin phá sản vào năm 2001, kéo theo thương hiệu cùng toàn bộ tài sản bị bán đi. Dẫu vậy, dòng chảy ấy chưa dứt khi Impossible Project bắt đầu sản xuất phim cho các máy Polaroid cũ vào năm 2008, trước khi tài sản thương hiệu qua nhiều chủ rồi được bán cho tỷ phú Ba Lan Wiaczesław Smołokowski năm 2017, còn Impossible Project đổi tên thành Polaroid Originals cùng năm và trở lại với tên Polaroid vào năm 2020. Đế chế lẫy lừng ấy từng bắt đầu từ buổi chiều ngập nắng năm 1943 tại Santa Fe, nơi cô bé Jennifer Land ngước nhìn bố và hỏi vì sao mình không thể xem ngay bức hình vừa chụp. Câu hỏi ngây thơ của đứa trẻ ba tuổi đã làm thay đổi cả ngành nhiếp ảnh thế giới, trước khi những trang nhật ký cuối cùng của người đàn ông phi thường tan vào tro bụi. [2]

Nguồn

  1. Edwin H. Land (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. Polaroid Corporation (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  3. Invention of the Polarizer - Edwin H. Land & Polaroid | Harvard Business School (www.library.hbs.edu, nguồn gốc)
  4. The Idea of Instant Photography - Edwin H. Land & Polaroid | Harvard Business School (www.library.hbs.edu, nguồn gốc)
  5. GENERATION OF GREATNESS (groups.csail.mit.edu, bài viết)
  6. MIT's much-imitated UROP turns 30 | MIT News | Massachusetts Institute of Technology (news.mit.edu, bài viết)
  7. Watch Mr. Polaroid | American Experience | Official Site | PBS (www.pbs.org, bài viết)
  8. GENERATION OF GREATNESS (web.archive.org, bài viết)
  9. G. W. Wheelwright III, 97, Dies; Co-Founder of Polaroid - The New York Times (web.archive.org, bài viết)
  10. COMPANY NEWS In Electronics, Optimism and Worry - NYTimes.com (web.archive.org, bài viết)

Ảnh bìa: Gotfryd, Bernard, photographer · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.