Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Hai rương hóa thạch Người Bắc Kinh mất dấu trên đường đi bảo quản

· Bí ẩn

Hóa thạch Người Bắc Kinh · 1941: Hai rương hóa thạch Người Bắc Kinh chứa ít nhất 40 cá thể đã mất dấu năm 1941.
Ảnh bìa: minh họa do AI tạo, kèm chữ; không phải ảnh tư liệu, không mô tả khuôn mặt người thật.

Ngày 4 tháng 12 năm 1941, hai rương hóa thạch rời Đại học Y Hiệp Hòa rồi mất dấu. Tại trường, các mẫu vật đại diện cho ít nhất 40 cá thể đã được đóng vào hai rương gỗ có khóa. Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ dự định vận chuyển hai rương tới tàu SS President Harrison. Bên trong những rương gỗ là lô hóa thạch được chuẩn bị để đưa đi bảo quản. Nhưng hành trình thực tế của lô hàng sau khi rời trường vẫn chưa xác định. [1]

Những chiếc răng mở đường tới một loài mới

Chu Khẩu Điếm là hệ thống hang ở quận Phòng Sơn, ngoại ô Bắc Kinh. Năm 1918, Johan Gunnar Andersson khảo sát khu vực mà người địa phương gọi là Đồi Xương Gà. Đến năm 1921, những người thợ khai thác địa phương dẫn ông cùng Walter W. Granger tới Đồi Xương Rồng. [3]

Otto Zdansky khai quật Chu Khẩu Điếm vào các năm 1921 và 1923. Những mẫu vật ban đầu sau đó được gửi sang Đại học Uppsala ở Thụy Điển để phân tích. Năm 1926, Andersson công bố việc phát hiện hai răng hàm người trong số vật liệu ấy. [3]

Năm 1927, Zdansky vẫn thận trọng khi định danh các răng là Homo sp., tức thuộc chi người nhưng chưa xác định chắc chắn loài. Davidson Black biết đến những chiếc răng này khi đang làm việc tại Đại học Y Hiệp Hòa Bắc Kinh. Ông xin Quỹ Rockefeller tài trợ cho việc khai quật có hệ thống ở Chu Khẩu Điếm, [3]

Dự án bắt đầu khai quật năm 1927 dưới sự giám sát của nhà khảo cổ Trung Quốc Li Jie. Mùa thu năm ấy, Anders Birger Bohlin tìm được thêm một chiếc răng. Với mẫu vật mới, Black đề xuất một cách định danh cụ thể hơn: ông cho rằng chiếc răng thuộc một loài mới, mang tên Sinanthropus pekinensis. [3]

Các phát hiện tiếp theo giúp Black nhận thêm khoản tài trợ từ Quỹ Rockefeller. Số tiền lần này là 80.000 đôla, bổ sung nguồn lực cho công việc khai quật và những phát hiện tiếp theo tại hệ thống hang. Địa điểm này nằm cách trung tâm Bắc Kinh khoảng 50 km về phía tây nam. Năm 1928, Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Kỷ Tân sinh được thành lập tại Đại học Y Hiệp Hòa. Andersson từng thốt lên: «Đây là người nguyên thủy, giờ chúng ta chỉ cần tìm thấy ông ta!» [3][2]

Một tay cầm búa, một tay cầm nến

Ngày 2 tháng 12 năm 1929, giữa thời tiết lạnh giá, Pei Wenzhong làm việc trong một khe nứt sâu 40 mét, một tay cầm búa, tay kia cầm nến. Chính tại đó, ông tìm thấy mảnh sọ người đầu tiên khá hoàn chỉnh. [1][4]

Công việc khai quật tiếp tục với sự tham gia của Yang Zhongjian, Pei Wenzhong và Jia Lanpo. Năm 1930, một mảnh sọ thứ hai xuất lộ gần nơi tìm thấy mảnh đầu tiên. Đến năm 1932, gần 100 công nhân làm việc tại địa điểm mỗi ngày; cuộc tìm kiếm trong hệ thống hang đã có một lực lượng lao động thường xuyên với quy mô ấy. [3]

Các cuộc khai quật, theo một nguồn, thu được 200 hóa thạch người thuộc hơn 40 cá thể. Bên cạnh hóa thạch người, Chu Khẩu Điếm còn có những mảnh xương động vật bị đốt. Những mảnh xương ấy từng được xem là bằng chứng về việc sử dụng lửa sớm nhất được biết, đưa dấu vết lửa vào những nghiên cứu về đời sống của những người để lại hóa thạch tại đây. [3][9]

Năm 1934, Davidson Black đột ngột qua đời ngay tại văn phòng vì khuyết tật tim bẩm sinh. Trên bàn làm việc của ông lúc ấy có một mảnh sọ Chu Khẩu Điếm. [1][3]

Sau năm 1934, Franz Weidenreich tiếp quản công việc của Black. Ông là nhà giải phẫu người Đức gốc Do Thái đã chạy trốn Đức Quốc xã. Năm 1936, trong thời gian Weidenreich tiếp nối công việc, thêm ba mảnh sọ được khai quật. Ding Wenjiang và Weng Wenhao từng hỗ trợ thành lập Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Kỷ Tân sinh. Black ở lại làm giám đốc danh dự của phòng thí nghiệm. Theo một nguồn khác, các hóa thạch đại diện cho ít nhất 40 cá thể được phát hiện từ năm 1929 đến 1936. [1][3][9]

Từ hầm két đến hạn chót năm 1941

Năm 1937, cuộc xâm lược của Nhật Bản khiến việc khai quật Chu Khẩu Điếm đình lại. Weidenreich phải lo bảo vệ những hóa thạch đã thu thập, còn những người làm việc tại địa điểm phải chịu tổn thất trực tiếp. Ba công nhân bị lính Nhật tra tấn rồi giết chết; một công nhân khác bị buộc kéo xe tay và chết vì đói. [3][9]

Ông cho làm hai thùng để cất giữ hóa thạch Người Bắc Kinh. Các mẫu vật được chuyển khỏi Đại học Y Hiệp Hòa, đưa vào hầm két của một ngân hàng Mỹ. Nhưng hầm két ấy chưa phải nơi lưu giữ cuối cùng: sau đó, hóa thạch lại trở về trường. [1]

Tại văn phòng, ông cùng các kỹ thuật viên và họa sĩ đúc khuôn, vẽ chi tiết hóa thạch. Bên cạnh những mẫu gốc cất trong két, công việc nghiên cứu tạo thêm các bản đúc và hình vẽ ghi lại hình dạng của chúng. Trong lúc công việc ấy tiếp diễn, Weidenreich cùng Weng Wenhao nhiều lần tìm cách thuyết phục Henry S. Houghton chuyển hóa thạch sang Hoa Kỳ. Các đề nghị đều thất bại, nên mẫu gốc vẫn chưa thể sang Hoa Kỳ. [1]

Năm 1941, Houghton sa thải Weidenreich. Ông mang các bản đúc cùng ghi chép nghiên cứu tới Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ ở New York. [1]

Đến tháng 9 năm 1941, Weng Wenhao và Raymond B. Fosdick mới thuyết phục được Đại sứ quán Hoa Kỳ cho phép vận chuyển hóa thạch. Khi giấy phép dành cho mẫu gốc được chấp thuận, Weidenreich đã mang bản đúc và ghi chép tới New York. Một nguồn ghi nhận năm mảnh sọ gần hoàn chỉnh, trong khi nguồn khác giới thiệu sáu mảnh sọ trên áp phích. Sự đình trệ của công việc khai quật được một nguồn gắn với sự kiện Cầu Marco Polo ngày 7 tháng 7 năm 1937. Chuyến đi của Weidenreich được Quỹ Rockefeller tài trợ. [1]

Sự thật và lời đồn trên đường ra cảng

Các mẫu gốc trong công trình của Franz Weidenreich có một điểm đến dự kiến là Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ. Trên tuyến sơ tán, cảng Tần Hoàng Đảo nằm gần căn cứ thủy quân lục chiến Camp Holcomb; từ cảng, các rương dự kiến tiếp tục hành trình tới bảo tàng. [1]

Trên đường tới Tần Hoàng Đảo, chiếc tàu dự kiến phục vụ việc vận chuyển bị chiến hạm Nhật tấn công và mắc cạn. Số phận hai rương lại xuất hiện trong một giả thuyết về đường biển khác: hóa thạch có thể đã nằm trên một con tàu bị chìm, chẳng hạn tàu Nhật Awa Maru. [1]

Vụ mất tích còn kéo theo những cáo buộc trộm cắp nhằm vào các nhóm Nhật Bản và Hoa Kỳ. Ở hướng tìm kiếm trên đất liền, Gao Xing nêu một khả năng khác: các xương có thể đã bị giấu ngay tại Bắc Kinh, trước khi kịp rời thành phố để đi tiếp theo kế hoạch. [1][9]

Ông cũng nêu khả năng các xương đã được chuyển tới Thiên Tân trên đường sang Hoa Kỳ. Một giả thuyết khác, được nhiều người tin, đặt các hóa thạch tại Công sứ quán Hoa Kỳ trước khi mất trên đường ra tàu. [9]

Phòng Sơn xuất hiện trong một giả thuyết riêng: ai đó có thể đã lấy các xương trước khi chúng lên tàu hỏa, rồi mang đi chôn hoặc cất giấu tại đây. Gao Xing nhấn mạnh rằng việc chôn giấu hóa thạch ở Phòng Sơn chưa có bằng chứng cụ thể. [9]

Chiếc thùng dưới hố cá nhân

Richard Bowen kể rằng năm 1947, khi đang đào hố cá nhân cạnh các doanh trại đá ở Tần Hoàng Đảo, ông thấy một chiếc thùng đầy xương. Người hạ sĩ thủy quân lục chiến gặp chiếc thùng trong cuộc nội chiến Trung Quốc, giữa lúc thành phố bị bao vây. [1]

Wang Qingpu đặt ra một khả năng có điều kiện: nếu lời Bowen chính xác, địa điểm có khả năng nhất giờ nằm dưới đường sá, nhà kho hoặc bãi đỗ xe. Tuy nhiên, chiếc thùng Bowen kể lại vẫn chưa được xác minh là nơi chứa các hóa thạch mất tích. [1]

Năm 1998, các thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc kêu gọi tìm kiếm lại những mảnh sọ. Đến năm 2000, Li Mingsheng và Yue Nan công bố tuyên ngôn «Tìm kiếm Người Bắc Kinh». Những lời kêu gọi tiếp tục được nối bằng việc thành lập một ủy ban chính thức vào năm 2005, với nhiệm vụ tìm các mảnh sọ đã mất. [9]

Tại thời điểm bài báo năm 2005, đường dây nóng đã nhận 63 manh mối, trong khi các mẫu vật vẫn chưa được xác định. Một ông già ở Giang Tây, được nói là 121 tuổi, tuyên bố biết các hóa thạch ở đâu; lời tuyên bố ấy chưa được kiểm chứng. [9]

Một người khác nói các hóa thạch bị chôn dưới một ngôi nhà ở Bắc Kinh; lời kể này cũng chưa được kiểm chứng. Các hóa thạch mất tích còn thu hút những người bị nghi ngờ hoặc bị cáo buộc là kẻ lừa đảo, cùng các điều tra viên nghiệp dư. Tuy nhiên, việc chưa xác minh được lời kể của từng người không đủ để khẳng định họ đã lừa đảo. [9]

Điều ít ai biết về phần còn lại

Franz Weidenreich từng viết về những công việc đã thực hiện với các hóa thạch Sinanthrope: định tuổi, mô tả, đo đạc, chụp X-quang, vẽ và đúc khuôn. Bản ghi chép không chỉ dừng ở hình dáng nhìn thấy bên ngoài; bên cạnh mô tả còn có số đo và ảnh X-quang, bên cạnh hình vẽ còn có bản đúc. [1]

Dựa trên hệ thống ghi chép đó, ông cho rằng việc mất mẫu gốc gây tổn thất lớn về mặt tình cảm nhưng chưa phải thảm họa đối với khoa học. [1]

Sự kỹ lưỡng còn hiện diện trong việc xử lý đất khai quật. Một nhóm kỹ thuật viên luôn làm việc cùng nhau để gần như mọi cục đất đều được kiểm tra. [1]

Sau lượt kiểm tra đó, đất rời tiếp tục được chuyển tới một nơi riêng để sàng qua sàng mịn. [1]

Ngoài hồ sơ nghiên cứu, vẫn còn những mẫu gốc từ giai đoạn khai quật ban đầu: bốn chiếc răng thuộc Bảo tàng Cổ sinh vật học Đại học Uppsala. [1]

Những bản đúc còn làm việc hôm nay

Hồ sơ Weidenreich để lại tiếp tục phục vụ nghiên cứu trong khi các cuộc khai quật hậu chiến mở lại công việc tại Chu Khẩu Điếm. Những đợt đầu diễn ra vào năm 1949 và năm 1951; hoạt động khai quật tiếp nối trong giai đoạn 1958–1960, rồi năm 1966 và giai đoạn 1978–1981. Nhưng công việc sau chiến tranh vẫn phải tiến hành trong hoàn cảnh phần lớn mẫu vật của thời kỳ trước đã mất, khiến hồ sơ cũ tiếp tục giữ một vị trí thiết yếu. [1][5]

Noel Boaz và Russell Ciochon gọi sự biến mất ấy là tổn thất dữ liệu gốc lớn nhất lịch sử cổ sinh vật học. Một nghiên cứu năm 2018 cho biết phần lớn hóa thạch Chu Khẩu Điếm tìm thấy trước năm 1937 đã mất trong Thế chiến II; suốt khoảng 80 năm, việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên bản đúc, mô tả và hình vẽ của Weidenreich. [9][5]

Hai rương ở đầu cuộc sơ tán đã mang theo những mẫu gốc rồi mất dấu, còn phần tư liệu Weidenreich tạo ra vẫn tiếp tục được dùng. Qua khoảng 80 năm, những gì các nhà nghiên cứu vẫn có thể tìm đến là các bản đúc, những trang mô tả và hình vẽ của ông. [1][5]

Nguồn

  1. Peking Man (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. Zhoukoudian (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  3. Zhoukoudian Peking Man Site (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  4. Pei Wenzhong (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  5. The fossil teeth of the Peking Man - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
  6. Morphological variation in Homo erectus and the origins of developmental plasticity - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
  7. Eightieth year of Peking Man: Current status of Peking Man and the Zhoukoudian site | Anthropological Review (doi.org, nguồn gốc)
  8. New Late Pleistocene age for the Homo sapiens skeleton from Liujiang southern China | Nature Communications (www.nature.com, nguồn gốc)
  9. Archaeology: Peking Man, still missing and missed - Health & Science - International Herald Tribune (web.archive.org, bài viết)

Ảnh bìa: minh họa do AI tạo, kèm chữ; không phải ảnh tư liệu, không mô tả khuôn mặt người thật.