Hai tảng đá cách nhau 153 m bắt đầu trượt gần như cùng lúc giữa sa mạc

Ngày 21 tháng 12 năm 2013, ngay trước buổi trưa, Richard Norris nghe tiếng lốp bốp rồi tiếng răng rắc lan khắp mặt hồ đóng băng ở Racetrack Playa. Âm thanh ấy vang lên trên một lòng hồ thường được hình dung là khô, giữa Vườn quốc gia Thung lũng Chết, hạt Inyo, California. Băng đang vỡ trên mặt hồ. Trong khung cảnh ấy, thứ đáng chú ý không chỉ là những tảng đá nằm lại sau các vệt kéo dài, mà còn là âm thanh báo hiệu một lớp băng đang nứt ra dưới chúng. [2][5]
Richard Norris là nhà cổ sinh vật học thuộc Viện Hải dương học Scripps, Đại học California tại San Diego, đồng thời dẫn dắt nhóm công bố quan sát trực tiếp về những tảng đá ở Racetrack Playa. Cùng dự án có James Norris, người làm việc ở Interwoof và là anh em họ của ông. Hai ông đứng trước một câu hỏi đã kéo dài qua những vệt đá trên mặt playa: lực nào có thể đẩy những tảng đá đi trên bề mặt ấy? Gió có đủ sức không? Băng có thể truyền lực xuống đáy hồ không? Hay chuyển động bắt đầu từ một điều khác, chỉ để lại dấu vết sau khi mọi thứ đã dừng lại? [2][5]
Những vệt kéo không chỉ đi thẳng
Trước khi Richard Norris theo dõi chuyển động của đá, người tìm quặng Joseph Crook từ Fallon, Nevada, đã tới Racetrack năm 1915; chuyến thăm ấy gắn với ghi chép có tư liệu đầu tiên về hiện tượng này. Lòng hồ khô gần như quanh năm, không có thực vật. Bùn co lại khi khô, nứt thành những đa giác ghép nhau như tranh khảm. Đầu phía bắc chỉ cao hơn đầu phía nam 3,8 cm. [1][2]
Xói mòn khiến đá từ các ngọn núi xung quanh rơi xuống bề mặt Racetrack. Hàng trăm tảng nằm rải trên lòng hồ khô, có tảng nặng tới 320 kg. Nhưng đường đi trên mặt hồ còn kéo dài ra xa nơi đá nằm: những vệt kéo thường dài tới 100 m, rộng khoảng 8–30 cm, còn độ sâu thường nhỏ hơn nhiều so với 2,5 cm. [4][5][1]
Những vệt ấy cũng không chỉ chạy thẳng. Nhiều vệt song song dường như cùng rẽ một góc lớn, đôi khi còn đảo ngược hướng đi. Hình dạng đáy đá để lại những dấu khác nhau trên bùn: đáy nhám tạo vệt thẳng có rãnh, trong khi đáy nhẵn có xu hướng đi ngoằn ngoèo. [1][3]
Năm 1948, Jim McAllister và Allen Agnew lập bản đồ đá nền khu vực rồi công bố báo cáo sớm nhất về đá trượt. Họ đề xuất rằng gió giật mạnh đẩy đá qua nền bùn, để lại rãnh phía sau. Các nhà nghiên cứu từng làm ướt bề mặt Racetrack rồi dùng luồng gió từ cánh quạt máy bay để thử: gió trên 20 m/s có thể đẩy đá tự nhiên trong điều kiện ấy. [1][3]
George M. Stanley công bố bài về đề tài này năm 1955, cho rằng một số tảng quá nặng để gió địa phương đẩy đi. Ông và những người theo hướng giải thích ấy đề xuất đá đông cứng vào băng: lớp băng làm giảm ma sát với đáy hồ, đồng thời tăng lực cản gió. [1][3]
GPS nằm trong những tảng đá mang tới
Mùa đông năm 2011, Richard Norris bắt đầu dựng dự án tại Racetrack với sự cho phép của Cơ quan Công viên Quốc gia. Nhóm gắn các thiết bị GPS chế tạo riêng, kích hoạt bằng chuyển động, lên 15 tảng đá. GPS, viết tắt của hệ thống định vị toàn cầu, sẽ ghi lại vị trí của từng tảng theo thời gian. Nhưng những tảng đá ấy đến từ bên ngoài hồ: cơ quan quản lý không cho phép nhóm dùng đá bản địa, nên họ phải mang những tảng tương tự vào Racetrack. [5]
Đá vôi dùng cho thiết bị được lấy tại Darwin Canyon, California. Nhóm khoan hốc vào từng tảng để đặt máy GPS, biến những khối đá mang tới thành các điểm ghi nhận chuyển động trên mặt playa. Richard Norris, James Norris và Jib Ray lập Slithering Stones Research Initiative, có thể dịch tự nhiên là Sáng kiến Nghiên cứu Những tảng đá trườn, với khẩu hiệu «Khoa học vì niềm vui khám phá». Công việc cần đến sự hỗ trợ của bạn bè trong những chuyến đi tới hồ xa xôi, từ việc khai thác đá cho thiết bị đến thiết kế các dụng cụ riêng. [5][3]
Phần lớn thời gian, máy ghi vị trí GPS và nhiệt độ bên trong cứ mỗi 60 phút. Khi tảng đá tách khỏi chiếc cò từ chôn bên dưới, thiết bị chuyển sang ghi liên tục từng giây, giữ lại chuỗi dữ liệu ngay lúc chuyển động bắt đầu và tiếp diễn. Một trạm khí tượng cũng đo tốc độ gió từng giây để xác định vận tốc cực đại của các cơn gió giật, dù máy đo đặt cao 3 m có thể không phản ánh đúng luồng gió sát mặt playa. [3]
Từ tháng 11 đến tháng 3 hằng năm, các máy ảnh time-lapse — loại máy ghi hình theo khoảng thời gian — theo dõi điều kiện trên hồ mỗi giờ. Nhóm phải trở lại Racetrack 5–8 lần mỗi năm để thay bộ pin và tải dữ liệu thời tiết. [5][3]
Ralph Lorenz từng ngờ đây sẽ là «thí nghiệm nhàm chán nhất từ trước tới nay». [5][3]
Viên đá thoát khỏi vòng thép
Tháng 5 năm 1968, Bob Sharp và Dwight Carey bắt đầu một chương trình theo dõi kéo dài tại Racetrack. Hai ông đánh dấu 30 tảng đá có vệt mới, cắm cọc để ghi nhận vị trí, rồi đặt tên riêng cho từng tảng. Suốt bảy năm, mỗi tảng được kiểm tra qua những thay đổi vị trí, biến mặt hồ thành nơi lưu lại từng bước dịch chuyển nhỏ nhất. [1]
Sharp và Carey dựng một vòng quây đường kính 1,7 m bằng bảy đoạn thép cốt bê tông, đặt quanh một viên đá rộng 8 cm và nặng 0,45 kg. Ngay trong mùa đông đầu tiên, viên đá bắt đầu đi về hướng tây bắc. Nó đi được 8,5 m, suýt chạm một thanh thép rồi thoát ra ngoài vòng quây. [1]
Hai tảng đá nặng hơn cũng nằm trong những vòng quây tương tự. Một tảng đứng yên suốt nhiều mùa đông rồi chỉ di chuyển sau năm năm. Tảng còn lại không đi chút nào trong toàn bộ thời gian nghiên cứu. [1]
Mùa đông đầu tiên ghi nhận 10 trong số 30 tảng đá đã đánh dấu di chuyển. Mary Ann, còn gọi là đá A, đi xa nhất với 65 m. Những lần kiểm tra vào mùa hè không xác nhận được tảng đá nào di chuyển, nên sổ theo dõi tập trung vào các đợt thay đổi xuất hiện trong mùa đông. [1]
Sau bảy năm, chỉ còn hai tảng trong nhóm 30 tảng chưa từng di chuyển. Tảng nặng nhất thực sự đã đi trong nghiên cứu của Sharp và Carey nặng 36 kg. [1]
Hai tảng đá khởi động cách nhau sáu giây
Richard Norris bước vào mùa đông 2013–2014 với một mặt hồ vừa xuất hiện giữa Racetrack Playa. Trong các ngày 21–24 tháng 11 năm 2013, một trận bão khu vực trút xuống tổng cộng 3,61 cm mưa và khoảng 20 cm tuyết. Hồ nông giữ nước từ cuối tháng 11 năm 2013 tới đầu tháng 2 năm 2014; bài khoa học ghi nhận độ sâu tối đa khoảng 10 cm. Khi Richard và James Norris tới vào tháng 12, mực nước họ thấy không quá 7 cm. [3][5]
Richard từng nói nhóm đã tính chuyện chờ năm hoặc mười năm mà vẫn không thấy tảng đá nào chuyển động. Sau hai năm, họ tình cờ có mặt đúng lúc những điều kiện cần thiết cùng xuất hiện. Nước phải đủ sâu để băng nổi hình thành trong đêm đông, nhưng cũng đủ nông để đá vẫn nhô lên khỏi mặt nước. Ban đêm, lớp băng chỉ dày 3–6 mm phủ trên hồ. Đến cuối buổi sáng, nắng làm lớp băng bắt đầu tan và vỡ ra khi gió đạt khoảng 4–5 m/s. [5][3]
Ngày 4 tháng 12 năm 2013, thiết bị ghi nhận đá A3 nặng 16,6 kg đi 65,6 m, còn A6 nặng 8,2 kg đi 64,1 m. Cả hai lần chuyển động đều kéo dài 16 phút và bắt đầu lúc 11 giờ 05 phút theo giờ địa phương. Hai tảng đá ban đầu cách nhau khoảng 153 m, nhưng thời điểm khởi động chỉ lệch nhau không quá sáu giây. [3]
Các mảng băng nổi khi ấy rộng hàng chục mét. Gió và dòng nước dưới lớp băng đẩy mảng băng tiến lên, còn mép băng vẫn chạm đáy playa và xô những tảng đá đang nằm trên mặt bùn. Nhiều tảng đi với tốc độ 2–5 m mỗi phút. Vì hướng và tốc độ gió thay đổi, dòng nước dưới băng cũng tham gia vào chuyển động, đường đi của đá không chỉ phụ thuộc vào vị trí ban đầu mà còn vào cách mảng băng trôi qua mặt hồ. [3]
Ngày 20 tháng 12, hơn 60 tảng đá cùng tham gia đợt chuyển động lớn nhất được ghi nhận trong bài khoa học. Bản ghi riêng của A11 cho thấy tảng đá nặng 15,4 kg đi 39,1 m trong 12,3 phút, bắt đầu lúc 11 giờ 37 phút. [3]
Điều ít ai biết về Nancy và Karen
Nancy, tức đá H, là viên nhỏ nhất được theo dõi, với đường kính chỉ 6,4 cm. Kích thước ấy đi cùng hai con số về quãng đường: 260 m là tổng quãng đường cộng dồn, còn 201 m là quãng đường Nancy đi trong riêng một mùa đông. [1]
Karen, tức đá J, là một khối dolomit có kích thước 74 × 48 × 51 cm, nặng ước tính 320 kg. Khối đá lớn ấy không di chuyển trong thời gian Bob Sharp và Dwight Carey theo dõi. [1]
Karen sau đó biến mất trước tháng 5 năm 1994. Thời điểm cụ thể không được xác định; lần biến mất có thể xảy ra trong mùa đông ẩm ướt bất thường năm 1992–1993. Khoảng thời gian ấy chỉ cho biết Karen đã không còn ở vị trí cũ trước tháng 5 năm 1994, chưa ghi lại một lần chuyển động mà người theo dõi đã chứng kiến. [1]
Năm 1996, nhà địa chất Paula Messina ở San Jose tìm lại được Karen. [1]
Sự thật và lời đồn dưới lớp băng
Với những tảng đá thật lớn, Richard Norris thừa nhận nhóm ông chưa thấy chúng chuyển động và vẫn đặt câu hỏi liệu chúng có đi theo cùng cơ chế hay không. [5]
Trong bài năm 2007, Brian Dunning ghi lại những lời đồn về lực từ kỳ lạ, năng lượng tâm linh, tàu ngoài hành tinh, thanh thiếu niên nghịch phá và xoáy liên chiều. [6]
Bài khoa học năm 2014 thuật lại rằng Bob Sharp và Dwight Carey xem kết quả là bằng chứng băng không phải cơ chế thúc đẩy đá. Một bản tổng hợp nêu cách đọc hẹp hơn: nếu băng có tham gia, vành băng quanh từng tảng phải nhỏ. [3][1]
Reid và cộng sự ghi nhận những chuyển động song song giữa các tảng cách nhau tới 830 m, từ đó gợi ý sự hiện diện của những tấm băng rất lớn. Paula Messina và Stoffer dùng GPS vi sai, với độ chính xác dưới một mét, lập bản đồ vị trí đá cùng các vệt còn nhìn thấy. Trên bản đồ, các vệt có những sai khác khiến bà và Stoffer nghiêng về khả năng đá chuyển động độc lập, thay vì cùng chịu lực đẩy từ một tấm băng duy nhất. [3]
Năm 2011, Ralph Lorenz đề xuất băng nâng đá hoặc ít nhất giúp đá nổi hơn, giảm sức cản từ nền đất. Trong phòng thí nghiệm, ông và đồng nghiệp thổi vào những viên đá có băng hỗ trợ; họ xem kết quả là sự ủng hộ giả thuyết bè băng. Nhưng lớp băng quan sát ngoài thực địa quá mỏng để kẹp và nhấc những tảng lớn khỏi mặt lòng hồ như một số mô hình từng đề xuất. [8][5]
Nhóm còn thấy các mảng băng chạm đáy, tự tạo ra những vệt không có đá; trước đó, Cơ quan Công viên Quốc gia từng nghi du khách đã lấy trộm đá ở những vệt như vậy. James Norris nêu một khả năng khác về người đến xem: du khách có thể từng chứng kiến đá trượt mà không nhận ra, bởi khi đá xung quanh cũng chuyển động, rất khó biết tảng trước mắt đang đi. [5]
Mười tám giây còn lại cho hôm nay
Ông cho biết nhóm ghi nhận năm đợt chuyển động trong hai tháng rưỡi hồ tồn tại; một số đợt, theo lời ông, có hàng trăm tảng đá cùng di chuyển. Những tảng gắn thiết bị cũng không chỉ đi trong một lần rồi dừng hẳn: từ tháng 12 năm 2013 tới tháng 1 năm 2014, một số tảng đạt quãng đường cộng dồn tới 224 m qua nhiều đợt. [3][5]
Một số bộ thiết bị bị ngập, khiến nhóm chỉ có vị trí đầu và cuối của những tảng đá mang chúng. Đến tuần thứ hai của tháng 2 năm 2014, hồ nước bốc hơi hết, khép lại khoảng thời gian nhóm ghi nhận các đợt đá trượt. Bài báo công bố kết quả xuất bản ngày 27 tháng 8 năm 2014. [3][9]
Ngày 9 tháng 1 năm 2014, lúc 12 giờ 50 phút, nhóm Richard Norris trực tiếp nhìn thấy một tảng đá đang đi. Tảng đá chuyển động với tốc độ khoảng 1–2 m/phút trong khoảng 18 giây. Phía thượng lưu của tảng đá, một mảng băng ước tính dài 5–8 m đẩy tới, xô đá đi. [3]
Nguồn
- Sailing stones (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Racetrack Playa (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Sliding Rocks on Racetrack Playa, Death Valley National Park: First Observation of Rocks in Motion - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
- The Racetrack - Death Valley National Park (U.S. National Park Service) (www.nps.gov, nguồn gốc)
- Mystery Solved Mysterious “sailing stones” of Death Valley seen in action for the first time - Death Valley National Park (U.S. National Park Service) (www.nps.gov, nguồn gốc)
- Living Stones of Death Valley - Skeptoid (skeptoid.com, bài viết)
- Investigators think they know who tore up Death Valley's fragile Racetrack Playa in an SUV - Los Angeles Times (www.latimes.com, bài viết)
- FoxNews.com - Why Are Death Valley's Rocks Moving Themselves? (web.archive.org, bài viết)
- Sliding Rocks on Racetrack Playa, Death Valley National Park: First Observation of Rocks in Motion | PLOS One (doi.org, nguồn gốc)
Ảnh bìa: minh họa do AI tạo, kèm chữ; không phải ảnh tư liệu, không mô tả khuôn mặt người thật.