Năm 1665, ngôi làng Eyam ở Anh tự phong tỏa để chặn dịch hạch và hy sinh hơn nửa dân số

Năm 1665, tại xưởng may của Alexander Hadfield ở làng Eyam, người trợ lý George Viccars nhận một bọc vải gửi tới từ Luân Đôn. Nhận thấy sấp vải bị ẩm, anh mở tung kiện hàng ra mà không hề hay biết bên trong thớ vải lúc nhúc những con bọ chét mang mầm bệnh dịch hạch,. Tai họa ập xuống chớp nhoáng: chỉ trong vòng một tuần sau, Viccars ngã bệnh rồi qua đời nhanh chóng; ngay sau đó, những người sống chung trong nhà với anh cũng bắt đầu chết theo. [1]
Hơi thở của bệnh dịch bắt đầu bao trùm ngôi làng nhỏ, gieo rắc nỗi kinh hoàng lên từng nếp nhà. Bản năng sinh tồn thôi thúc họ gói ghém hành trang tháo chạy để tự cứu lấy bản thân, nhưng lựa chọn còn lại là chấp nhận phong tỏa chính mình, ở lại đối mặt với lưỡi hái tử thần để ngăn Cái Chết Đen lan tràn ra bên ngoài. [5]
Thế nhưng, liệu hành động phong tỏa nghiệt ngã ấy thực sự là một lá chắn dịch bệnh có căn cứ thực tế, hay chỉ là một sai lầm chết người bị hậu thế thêu dệt thành huyền thoại?
Hai vị mục sư đối nghịch và lời thề sau lằn ranh đá
Trước khi đại dịch bùng phát, Mục sư William Mompesson vốn không có được sự ủng hộ tuyệt đối của giáo dân. Ông cùng người vợ mẫu mực Katherine đến Eyam nhận nhiệm sở nhưng ban đầu gặp nhiều trở ngại trong việc hòa nhập với cư dân địa phương. Căng thẳng ban đầu thậm chí đã nảy sinh gay gắt giữa ông và một chủ đất địa phương có tính tham lam tên là Sheldon. Bất đồng xã hội và sự xa cách giữa một mục sư mới được bổ nhiệm với cộng đồng làng quê khép kín khiến việc tìm kiếm tiếng nói chung trở thành một thử thách nặng nề. [5]
Thế nhưng, khi dịch bệnh lan rộng và nỗi sợ hãi bao trùm, dân làng Eyam đã tìm kiếm sự dẫn dắt từ cả Mục sư đương nhiệm William Mompesson và vị mục sư Thanh giáo Thomas Stanley. Từng bị buộc phải rời bỏ chức vụ, vị cựu mục sư Stanley đã quay trở lại làng ngay khi biến cố bắt đầu xảy ra. Một bên là người đại diện cho thẩm quyền giáo hội hiện hành, một bên là người gắn bó sâu sắc với đức tin của nhiều gia đình địa phương từ quá khứ. [1][5]
Nhận thấy mầm bệnh đe dọa biến Eyam thành ổ dịch quét qua vùng nông thôn xung quanh nếu dân chúng bỏ chạy, hai vị chức sắc tôn giáo đối nghịch đã gạt bỏ hiềm khích cũ để cùng đứng ra dẫn dắt cộng đồng. Khi đại dịch ập đến dữ dội, Mục sư William Mompesson kêu gọi giáo dân hi sinh bản thân. Trước lời hiệu triệu đặt tính mạng người khác lên trên mạng sống của chính mình, dân làng gần như lập tức đồng thuận. [5]
Từ sự đồng thuận ấy, quyết định nổi tiếng nhất tại làng Eyam đã được đưa ra: tiến hành phong tỏa và cách ly toàn bộ ngôi làng để ngăn dịch bệnh tiếp tục lan rộng. Để biến một thỏa thuận tự nguyện thành bức tường phòng thủ hiệu quả, bắt đầu từ tháng 5 năm 1666, hai vị mục sư đã áp dụng một loạt các biện pháp phòng ngừa nhằm làm chậm sự lây lan của dịch bệnh. [1]
Những đồng xu ngâm giấm và giáo đường dưới vách đá
Để duy trì trật tự và đức tin mà không biến không gian đóng kín của nhà thờ thành ổ dịch, các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt lập tức được ban bố. Dân làng nhận lệnh dời toàn bộ các buổi lễ tôn giáo ra ngoài trời, đồng thời các gia đình phải tự mình chôn cất người thân tử nạn thay vì tổ chức tang lễ tập trung tại nghĩa trang giáo xứ. [1]
Địa điểm hành lễ được chuyển tới Cucklett Delph, một hẻm núi đá vôi dốc đứng tạo thành một giảng đường tự nhiên. Dưới bầu không khí thoáng đãng, các tín hữu đứng tản mát trên các triền dốc, giữ khoảng cách an toàn với nhau trong khi lắng nghe lời cầu nguyện vọng ra từ vách đá. Việc chuyển các buổi lễ tới không gian mở này vừa giúp duy trì chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng, vừa giảm bớt nguy cơ lây nhiễm chéo giữa các gia đình đang đối mặt với dịch bệnh. [1]
Song song với việc duy trì đời sống tôn giáo, bài toán lương thực sống còn được giải quyết thông qua một mạng lưới tiếp tế không tiếp xúc. Thương lái từ các ngôi làng lân cận mang nhu yếu phẩm đến đặt tại những tảng đá được đánh dấu làm ranh giới phong tỏa rồi rút lui. Để thanh toán cho số hàng hóa này mà không làm lây lan mầm bệnh ra bên ngoài, dân làng Eyam đã khoét các lỗ nhỏ trên mặt đá ranh giới rồi đổ đầy giấm vào để khử trùng những đồng tiền kim loại. [1]
Điểm giao thương quan trọng nhất là tảng đá Ranh giới (Boundary Stone), nằm giữa cánh đồng nối làng Eyam và làng Stoney Middleton. Đây là nơi dân làng đặt những đồng tiền đã ngâm giấm khử khuẩn trước khi lùi xa để thương lái bên ngoài đến nhận. Trong tác phẩm «Lockdown», hòn đá Ranh giới được miêu tả như một quân xúc xắc lệch với sáu lỗ đen đựng đầy rượu giấm để tẩy sạch các đồng tiền nhiễm độc. Khi người mua rút đi, thương lái mới tiến lại nhặt những đồng tiền đẫm mùi chua nồng mà không sợ mầm bệnh bám vào tay. [1][4]
Khi số người ngã bệnh bắt đầu tăng vọt, quy định buộc các gia đình phải tự chôn cất người thân đã đẩy từng mái nhà vào những bi kịch nghiệt ngã nhất. [1]
Tám ngày của bà Elizabeth Hancock và những người sống sót kỳ lạ
Quy định không chôn cất tập trung ở nghĩa trang giáo xứ đẩy gánh nặng tàn khốc lên vai những người còn trụ lại. Tại trang trại Riley, tai họa giáng xuống đầu bà Elizabeth Hancock khi lần lượt từng người thân ruột thịt ngã gục. Chỉ trong vòng tám ngày ngắn ngủi, bà phải tự tay đào đất chôn cất người chồng cùng sáu đứa con của mình. Cụm mộ của gia đình bà sau này được gọi là những ngôi mộ Riley, đặt theo tên chính trang trại nơi họ từng chung sống. [1]
Bên cạnh sự mất mát khôn cùng, sự sống sót của một bộ phận cư dân Eyam dường như diễn ra hoàn toàn ngẫu nhiên. Nhiều người sống sót trong làng từng tiếp xúc rất gần với người bệnh nhưng không hề bị lây nhiễm. Bản thân bà Elizabeth Hancock, dù đơn độc chạm vào từng thi thể của chồng và con để kéo xuống huyệt sâu, vẫn không hề mắc bệnh. [1]
Điều khó hiểu tương tự xuất hiện ở Marshall Howe, người đào mộ tự phát của làng Eyam. Khi phần lớn dân cư khiếp đảm không dám bước tới gần các tử thi, Howe nhận nhiệm vụ xử lý và chôn cất rất nhiều thi thể mang mầm bệnh. Ra vào những căn phòng nồng nặc tử khí và trực tiếp gom các xác chết suốt nhiều tháng, người đàn ông này vẫn sống sót kỳ lạ sau chuỗi ngày tăm tối. [1]
Những trường hợp thoát chết hy hữu đó không ngăn được dịch bệnh tàn phá Eyam. Dịch hạch hoành hành tại ngôi làng suốt 14 tháng trước khi chấm dứt. Trận dịch đã cướp đi sinh mạng của ít nhất 260 người dân làng, khiến chỉ còn 83 người sống sót trên tổng số 350 dân cư. Trong khi đó, sổ sách lưu trữ của nhà thờ Eyam ghi nhận danh tính của 273 cá nhân là nạn nhân tử vong do trận dịch. [1]
Bóng mây hoài nghi sau hai trăm năm huyền thoại
Suốt hai thế kỷ sau khi dịch hạch thoái lui, ký ức về Eyam dần được phủ lên một lớp màn bi kịch lãng mạn. Người ta truyền tai nhau truyền thuyết về mối tình đau thương giữa cô gái Emmott Syddall và chàng trai Rowland Torre, hai người đứng cách biệt ở hai bên giới tuyến phong tỏa, câu chuyện sau này từng được Armitage nhắc lại trong thơ. Cuộc tình không lời giữa hai người cứ thế diễn ra qua con suối ngăn cách đôi bờ, nơi đôi tình nhân chỉ có thể lặng lẽ nhìn nhau, cho tới một ngày cô gái vắng bóng và không bao giờ xuất hiện trở lại. [4]
Những câu chuyện thắt lòng ấy đã nuôi dưỡng ý niệm tôn vinh sự hy sinh của cộng đồng. Vào năm 1866, nhân dịp kỷ niệm 200 năm xảy ra dịch bệnh, lễ tưởng niệm mang tên Plague Sunday lần đầu tiên bắt đầu được tổ chức tại làng Eyam. Từ cột mốc đó, sự kiện này được duy trì và hiện nay vẫn được tiến hành tại giảng đường Cucklett Delph vào ngày Chủ nhật cuối cùng của tháng 8 hàng năm. [1]
Tuy nhiên, bức tranh tôn vinh lòng dũng cảm bắt đầu vấp phải những hoài nghi gay gắt từ giới học thuật. Năm 1891, nhà nghiên cứu Charles Creighton công khai đặt nghi vấn về tính khôn ngoan của biện pháp tự phong tỏa và cho rằng dân làng Eyam đã bị hy sinh cho một ý tưởng không có cơ sở khoa học. Creighton nêu giả thuyết rằng thay vì giam mình trong ổ dịch, người dân Eyam đáng lẽ nên sơ tán ra nơi khác, miễn là họ không tập hợp đông người hay mang theo các đồ vật đã bị nhiễm khuẩn. [1]
Hơn một thế kỷ sau, làn sóng xét lại tiếp tục đào sâu vào tính xác thực của câu chuyện. Năm 2005, một nghiên cứu cho rằng câu chuyện lịch sử của Eyam chỉ là sản phẩm hư cấu được thêu dệt lâu sau biến cố. Nghiên cứu này nhận định những câu chuyện mang màu sắc lãng mạn và ủy mị về Eyam từ đầu thế kỷ 19 phần lớn do các nhà thơ, nhà văn và sử gia địa phương tạo ra chứ không phải từ giới bác sĩ. Tác giả nghiên cứu năm 2005 còn nhận định lễ tưởng niệm năm 1866 là sự khởi đầu của một «truyền thống được kiến tạo rõ rệt» nhằm tạo ra ngành kinh tế di sản du lịch dịch hạch. [1]
Lời giải đáp xác đáng cho câu hỏi này chỉ dần hé lộ khi các phương pháp nghiên cứu hiện đại bước vào cuộc điều tra. [1]
Lời giải bằng mô hình toán và 273 cái tên được xướng lên
Bước sang thế kỷ 21, những ẩn số về khả năng sinh tồn kỳ lạ tại Eyam dần được sinh học phân tử soi chiếu dưới góc nhìn mới. Năm 2000, một nghiên cứu do Tiến sĩ Steve O'Brien dẫn đầu đã đưa ra giả thuyết rằng đột biến gen CCR5-Δ32 có thể đã giúp các cư dân sống sót kháng cự lại dịch bệnh tại Eyam. Không dừng lại ở cấp độ gien di truyền, hành vi của cộng đồng này còn trở thành nền tảng cho khái niệm «Thuyết Eyam» trong y khoa, một lý thuyết được đặt theo tên ngôi làng nhằm giải thích hành vi tự cô lập để ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Trong sinh học tiến hóa, các tác giả nghiên cứu trên PLoS Biology cũng đề xuất «Giả thuyết Eyam», cho rằng chọn lọc tự nhiên có thể ưu tiên các hành vi ốm yếu vì chúng giúp hạn chế lây truyền bệnh tật cho các cá thể cùng huyết thống, và chính sự sụt giảm lây lan này đã đóng góp vào sự tiến hóa của hành vi ốm yếu. [1][2]
Dù vậy, những giả thuyết sinh học vẫn chưa thể dập tắt mối hoài nghi gay gắt nhất: liệu việc tự giam mình trong ranh giới đá có thực sự ngăn được mầm bệnh ra thế giới bên ngoài hay không? Câu trả lời dứt khoát xuất hiện vào năm 2016 qua công trình của Tiến sĩ Didelot và Whittles. Nghiên cứu mô phỏng này xác nhận sự lây truyền trực tiếp từ người sang người trên thực tế lớn hơn nhiều so với suy đoán trước đó, và quyết định cô lập làng Eyam đã thực sự giúp chặn dịch. Mô hình toán học hiện đại đã chứng minh cái giá khủng khiếp mà ngôi làng phải trả không phải là một sự hy sinh vô ích hay sai lầm phản khoa học. [1][5]
Trong những giây phút cuối của vở kịch tại Nhà hát Globe, nhân vật mục sư Mompesson trang nghiêm xướng tên 273 nạn nhân đã ngã xuống trong đại dịch. Hơn ba thế kỷ sau ngày bọc vải ẩm được mở ra tại xưởng may, lằn ranh đá ngâm giấm không còn là một giai thoại bị hoài nghi. Những con người chấp nhận chôn chân nơi thung lũng đá đã hoàn thành trọn vẹn bản giao ước sinh tử, dùng chính mạng sống của mình để chặn đứng bước chân dịch bệnh cho đồng loại bên ngoài ranh giới. [5]
Nguồn
- Eyam (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Why Do We Feel Sick When Infected—Can Altruism Play a Role? - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
- The history and antiquities of Eyam; : with a full and particular account of the Great Plague, which desolated that village, A.D. 1666. : Wood, William (Screenwriter) n 2014057193 : Free Download, Bor (archive.org, nguồn gốc)
- Lockdown: Simon Armitage writes poem about coronavirus outbreak | Simon Armitage | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
- Eyam review – song and sacrifice as Black Death descends on Derbyshire | Theatre | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
- Eyam Parish Council | Parish Councils (www.parishcouncils.uk, bài viết)
- Eyam - mining and industry (web.archive.org, bài viết)
- Eyam village - mines of the Eyam area (web.archive.org, bài viết)
- Book Reviews, Sites, Romance, Fantasy, Fiction | Kirkus Reviews (www.kirkusreviews.com, bài viết)
Ảnh bìa: donald judge · CC BY 2.0 · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.