Năm 1938, con cá vây tay ngỡ tuyệt chủng 66 triệu năm bất ngờ xuất hiện trên tàu cá Nam Phi

Ngày 22 tháng 12 năm 1938, cô Marjorie Courtenay-Latimer bước lên boong chiếc tàu kéo Nerine vừa cập cảng dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng Hendrik Goosen. Cúi người gạt bỏ lớp chất nhờn phủ trên đống cá phụ, cô sững sờ khi phát hiện một con cá dài 5 foot (150 cm) mang sắc màu kỳ lạ. Toàn thân sinh vật ánh lên màu xanh hoa cà nhạt với các đốm trắng mờ, lấp lánh những vệt bạc xanh lơ dưới ánh trời,. [2]
Chuyến đi ấy bắt đầu từ một thói quen kiên trì. Để mở rộng bộ sưu tập cho bảo tàng, cô Courtenay-Latimer đã chủ động nhờ các ngư dân địa phương báo tin mỗi khi họ bắt được những mẫu vật khác thường. Nhận được cuộc điện thoại mời đến kiểm tra mẻ cá phụ vừa cập cảng vào sáng hôm ấy, cô tức tốc đến bến tàu, không ngờ mình sắp chạm tay vào một sinh vật nằm ngoài mọi hiểu biết thông thường,. [2]
Mẫu cá lạ được bao bọc bởi một lớp vảy cứng cáp. Kỳ lạ hơn cả, nó sở hữu bốn chiếc vây vươn dài tựa như các chi và một chiếc đuôi thứ cấp trông giống hệt đuôi chó con. Cấu trúc cơ thể dị thường ấy ngay lập tức đặt ra một câu hỏi chấn động: làm sao một sinh vật ngỡ đã biến mất khỏi Trái Đất cùng loài khủng long từ hơn 66 triệu năm trước lại có thể xuất hiện nguyên vẹn giữa mẻ lưới của những người đi biển Nam Phi? [2]
Chuyến taxi chở con cá lạ và cuộc chạy đua trong cái nóng mùa hè
Để đưa khối thịt kỳ dị rời cảng, cô Courtenay-Latimer vẫy một chiếc taxi. Người tài xế ban đầu tỏ ra ngần ngại khi phải chở con vật lạ lùng trong cốp xe, nhưng cô kiên quyết yêu cầu ông ta chở về bảo tàng. Dù chưa từng được đào tạo chính quy, cô từng gây ấn tượng trong buổi phỏng vấn nhờ kiến thức tự nhiên học và được tuyển dụng vào Bảo tàng East London năm 1931 khi mới 24 tuổi. [9][2]
Hy vọng tìm kiếm một lời giải từ ban quản trị nhanh chóng tắt ngấm. Chủ tịch hội đồng bảo tàng đã gạt phắt đi khi cho rằng con cá lạ chẳng qua chỉ là một con cá tuyết đá (rock cod) rồi rời đi nghỉ lễ. Trong nỗ lực bảo quản mẫu vật giữa mùa hè, Courtenay-Latimer lần lượt mang con cá đến nhà xác thị trấn rồi đến kho lạnh nhưng đều bị từ chối lưu giữ. [9][2]
Không còn nơi nào tiếp nhận, cô đành đưa con cá đến chỗ thợ nhồi xác động vật quen biết là Robert Center. Tại đây, Center đã giúp cô quấn con cá bằng giấy báo và khăn trải giường tẩm formalin để làm chậm quá trình hư hỏng. Song biện pháp tạm bợ ấy không thể giữ được mẫu vật trước thời tiết. Do không thể liên lạc với nhà nghiên cứu J.L.B. Smith vì ông đang đi nghỉ, con cá bắt đầu phân hủy và rỉ dầu dưới cái nóng ẩm của mùa hè Nam Phi tính đến ngày 27 tháng 12 năm 1938. [2]
Trước tình trạng phân hủy của con cá, Courtenay-Latimer đành miễn cưỡng đồng ý cho Robert Center lột da và mổ bỏ toàn bộ nội tạng để chuẩn bị nhồi xác. [2]
«Quả bom nổ tung» và danh định một loài trở về từ cõi chết
Ngày 3 tháng 1, khi trở về Grahamstown và nhìn thấy bức vẽ phác thảo, ông Smith vô cùng hoảng hốt và kích động vì nghi ngờ đây là một con cá vây tay còn sống. Nhìn vào những nét vẽ của cô Courtenay-Latimer, J.L.B. Smith sau này thuật lại rằng một quả bom dường như đã nổ tung trong tâm trí ông. [10][9]
Giáo sư Smith lập tức gửi một bức điện tín nổi tiếng xác nhận tầm quan trọng của mẫu vật: «Quan trọng nhất là giữ bộ xương và mang = Cá đã được mô tả». [1]
Đến ngày 16 tháng 2 năm 1939, khi lần đầu tiên nhìn thấy mẫu vật đã được nhồi xác, ông Smith lập tức nhận ra đây chắc chắn là một con cá vây tay mà không còn chút nghi ngờ nào. Nhà khoa học xúc động thốt lên rằng mẫu vật này trông giống hệt như một sinh vật của 200 triệu năm trước vừa sống lại. Ông khẳng định với cô Courtenay-Latimer rằng phát hiện mang tính lịch sử này rồi đây sẽ nằm trên môi của tất cả các nhà khoa học trên thế giới. [2][9]
Đúng như dự đoán, ngày 18 tháng 3 năm 1939, ông Smith chính thức công bố phát hiện trước công chúng khoa học thế giới trong một bức thư gửi cho tạp chí Nature. Ông đặt tên khoa học cho mẫu cá là Latimeria chalumnae, trong đó tên chi vinh danh người phát hiện Courtenay-Latimer và tên loài lấy theo dòng sông Chalumna nơi mẻ cá được kéo lên. [10]
Một bản mô tả chi tiết và hoàn chỉnh hơn về loài cá này kèm theo nhiều hình ảnh đã được ông Smith xuất bản trên tờ Transactions of the Royal Society of South Africa vào năm 1940. [10][1]
Mười bốn năm ròng rã và cuộc săn lùng ngoài khơi Comoros
Dù danh tiếng của sinh vật Lazarus đã lan rộng khắp thế giới, giới khoa học vẫn phải mòn mỏi chờ đợi suốt mười bốn năm tiếp theo mới có thể tìm thấy một cá thể cá vây tay thứ hai. Trong nỗ lực tìm kiếm một mẫu vật trọn vẹn, ông Smith đã cho dán áp phích thông báo tìm kiếm cá vây tay bằng nhiều ngôn ngữ tại các vùng biển triển vọng, nhưng toàn bộ kế hoạch này nhanh chóng bị đình trệ bởi Chiến tranh Thế giới thứ hai. [2][9]
Mãi đến năm 1952, cuộc tìm kiếm xuyên qua cuộc đại chiến mới có được lời hồi đáp. [10]
Phát hiện năm 1952 đã mở đường cho hàng loạt cuộc ghi nhận tiếp theo tại vùng biển Ấn Độ Dương. Trong giai đoạn từ năm 1938 đến năm 1975, đã có tổng cộng 84 cá thể cá vây tay được bắt và ghi chép lại một cách khoa học. [1]
Trong số các địa bàn trên, vùng biển quanh đảo Grande Comore là nơi chứng kiến sự săn bắt dồn dập nhất. Kể từ phát hiện đầu tiên, gần 200 con cá vây tay đã bị đánh bắt ở độ sâu khoảng 600 foot ngoài khơi hòn đảo này. [9]
Trước nguy cơ biến mất của quần thể mong manh này, vào năm 1991, một lệnh cấm tuyệt đối đối với việc buôn bán cá vây tay đã chính thức được ban hành. Mặc dù vậy, loài cá cổ xưa vẫn tiếp tục bị đe dọa bởi các giao dịch ngầm trên chợ đen với mức giá vượt quá 1.000 bảng Anh cho mỗi con. [9]
Bất ngờ ở chợ cá châu Á và cuộc chạm trán ở độ sâu 140 mét
Trong lúc giới khoa học đinh ninh cá vây tay chỉ quần tụ ngoài khơi bờ tây Ấn Độ Dương, một bất ngờ lớn đã xảy ra cách đó gần mười nghìn cây số. Vào tháng 9 năm 1997, nhà sinh học Mark V. Erdmann cùng vợ là Arnaz Mehta đang đi dạo tại một chợ cá địa phương ở Manado, thuộc tỉnh Bắc Sulawesi của Indonesia. Giữa những sạp hàng bày bán hải sản quen thuộc, hai vợ chồng sững sờ nhận ra một cá thể cá vây tay còn sinh tồn thuộc về loài thứ hai chưa từng được ghi nhận. [1]
Quyết tâm không để manh mối vụt mất, Erdmann triển khai một đợt khảo sát ngư dân trên diện rộng vào cuối năm 1997. Nỗ lực kiên trì ấy gặt hái kết quả vào tháng 7 năm 1998, khi ngư dân địa phương bắt được một cá thể cá vây tay Indonesia thứ hai và chuyển giao lại cho ông. Đến năm 1999, dựa trên chính mẫu vật năm 1998 này, nhà nghiên cứu Pouyaud và các cộng sự đã công bố bản mô tả khoa học chính thức, định danh loài cá vây tay Indonesia và đưa mẫu vật vào lưu trữ tại Viện Khoa học Indonesia (LIPI). [1]
Sự hiện diện của sinh vật này tại vùng biển Đông Nam Á còn mở ra những tầng bí ẩn sâu hơn. Các phân tích di truyền học chỉ ra rằng quần thể cá vây tay tại Indonesia trên thực tế có thể bao gồm nhiều hơn một loài riêng biệt. [1][3]
Hơn hai mươi năm sau các phát hiện tại chợ cá, giới nghiên cứu mới có cơ hội quan sát sinh vật này hoạt động tự nhiên dưới đáy đại dương mà không cần qua lớp kính tàu ngầm. Vào tháng 10 năm 2024, các thợ lặn kỹ thuật sử dụng khí hỗn hợp trimix đã lần đầu tiên trực tiếp tiếp cận và chụp ảnh cá vây tay Indonesia sống ngoài khơi Bắc Maluku ở độ sâu hơn 140 mét. Cá thể này dài khoảng 1,1 mét, không hề lẩn trốn trong các hang hốc như tập tính thường thấy, mà bơi lơ lửng ngoài khoảng trống ngay trên một tảng đá dốc phủ san hô mềm. [3]
Trong suốt cuộc chạm trán ở độ sâu thẳm, con cá liên tục dựng đứng chiếc vây lưng thứ nhất, một biểu hiện được cho là có thể liên quan đến trạng thái đang hoạt động hoặc phản xạ phòng vệ tự nhiên. Sang ngày hôm sau, nhóm thợ lặn tiếp tục ghi nhận một cá thể cá vây tay bơi lượn trong cùng khu vực. [3]
Bên trong cỗ máy sinh tồn: Não tí hon và chiếc mỏ cảm ứng điện
Tên gọi Coelacanth bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là «gai rỗng», do Louis Agassiz đặt năm 1839 dựa trên đặc điểm các tia vây đuôi rỗng ở mẫu hóa thạch đầu tiên. Toàn thân cá vây tay có tổng cộng tám chiếc vây: hai vây lưng, hai vây ngực, hai vây bụng, một vây hậu môn và một vây đuôi. Phần đuôi cá có dạng ba thùy đối xứng và bị phân cắt ở giữa bởi một thùy vây đuôi tận cùng kéo dài. [1]
Thay vì có cột sống bằng xương hoàn chỉnh, cá vây tay có một ống dây sống thành dày đàn hồi chứa đầy dầu chịu áp lực làm trục nâng đỡ cơ thể suốt đời. Nằm ngay dưới dây sống là bóng bơi chứa đầy dầu cùng chất béo thay vì chứa khí như hầu hết các loài cá khác nhằm mục đích tăng sức nổi. [8]
Bộ não của cá vây tay trưởng thành cực kỳ nhỏ, chỉ chiếm khoảng 1,5% dung tích hộp sọ và chỉ nặng chưa đầy một phần mười ounce ở một cá thể nặng 90 pound. Khớp nội sọ kết hợp với các bó cơ hàm khỏe giúp cá vây tay có thể há miệng cực rộng để hút trọn con mồi vào khoang miệng. [8][1]
Mắt của cá vây tay có rất ít tế bào nón cảm nhận màu sắc nhưng lại chứa lượng lớn tế bào que, giúp chúng nhìn rất rõ trong bóng tối sâu dù thực tế gần như mù màu. [8]
Khoang chứa đầy dịch nhầy nằm ở trung tâm mõm cá vây tay là cơ quan mỏ, được coi là thụ quan phát hiện các xung điện trường yếu phát ra từ con mồi. [8][1]
Phá vỡ huyền thoại «hóa thạch sống» và sự thật về những bước đi
Trong bóng tối của biển sâu, cá vây tay Latimeria hiện đại là loài săn mồi trôi dạt về đêm, thường xuyên thả trôi mình lơ lửng trong trạng thái gần như bất động. Dù mang thân hình đồ sộ, thịt của chúng chứa lượng dầu rất cao, bốc mùi hôi thối đặc trưng và không thể dùng làm thực phẩm. Trái với những ám chỉ của ông Smith trong cuốn sách «Old Four Legs» rằng loài này dùng vây để bước đi, quan sát thực tế cho thấy chúng chỉ chèo so le các vây giống như sa giông bơi chậm. Dẫu vậy, cá vây tay cử động các cặp vây thùy thịt tương tự cách động vật bốn chân bước đi, với vây ngực bên phải phối hợp nhịp nhàng cùng vây bụng bên trái. Các cặp vây thùy này có thể xoay tới 180 độ và chèo nước theo quỹ đạo hình số 8 một cách cực kỳ chuẩn xác và linh hoạt. Khi dừng lại nghỉ ngơi trên đáy đại dương, chúng tuyệt đối không sử dụng các vây ghép có thùy thịt của mình cho bất kỳ hoạt động di chuyển nào. [1][7][9][8]
Cá vây tay sinh sản theo hình thức noãn thai sinh, trứng được thụ tinh bên trong và cá con được giữ lại trong ống dẫn trứng của mẹ cho tới khi sinh nở. Cá con phát triển bên trong cơ thể mẹ và dính liền với một khối noãn hoàng khổng lồ có đường kính khoảng 100 mm, nằm trong số những quả trứng lớn nhất từng biết ở động vật có xương sống. Mỗi lứa, cá mẹ có thể sinh tới 26 con non với thời gian mang thai ước tính kéo dài 14 tháng, và tuổi thọ của chúng có thể vượt quá 80 năm. Bức tranh sinh thái sống động này đã bác bỏ quan niệm đóng khung về một loài vật ngưng trệ tiến hóa: trái với niềm tin phổ biến xem chúng là «hóa thạch sống», các nghiên cứu gần đây chỉ ra quan điểm về sự bảo thủ hình thái không biến đổi của cá vây tay là một niềm tin không dựa trên dữ liệu. [8][7][1]
Mẫu cá vây tay đầu tiên do cô Marjorie Courtenay-Latimer cứu giữ vào năm 1938 hiện vẫn đang được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng East London ở Nam Phi. Dưới lớp kính bảo tàng, vóc dáng của sinh vật màu xanh hoa cà lấp lánh năm nào đưa người xem trở lại buổi sáng gió lộng trên boong tàu kéo Nerine. Trực giác bền bỉ của cô thủ thư trẻ tuổi ngày ấy đã cứu lấy một báu vật vô giá của lịch sử tự nhiên, mở ra cánh cửa đưa nhân loại bước vào thế giới thực sự của một sinh vật kiên cường dưới đáy đại dương. [10]
Nguồn
- Coelacanth (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Marjorie Courtenay-Latimer (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- First record of a living coelacanth from North Maluku, Indonesia - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
- A newly recognized fossil coelacanth highlights the early morphological diversification of the clade - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
- A dual respiratory and auditory function for the coelacanth lung | Communications Biology (www.nature.com, nguồn gốc)
- Earliest known coelacanth skull extends the range of anatomically modern coelacanths to the Early Devonian | Nature Communications (www.nature.com, nguồn gốc)
- Dinosaur fish pushed to the brink by deep-sea trawlers | Environment | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
- NOVA | Ancient Creature of the Deep | Anatomy of the Coelacanth | PBS (www.pbs.org, bài viết)
- Marjorie Courtenay-Latimer | | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
- Marjorie Courtenay-Latimer - The Linda Hall (www.lindahall.org, bài viết)
Ảnh bìa: Alberto Fernandez Fernandez · CC BY-SA 3.0 · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.