Năm 1940, nhà ngoại giao Chiune Sugihara cãi lệnh Tokyo viết hơn 2.000 thị thực cứu người Do Thái

Sáng ngày 27 tháng 7 năm 1940, Chiune Sugihara thức giấc tại thành phố Kaunas và chứng kiến hàng trăm người tị nạn Do Thái đang vây kín trước cổng tòa lãnh sự Nhật Bản. Đặt chân tới đây từ năm 1939 trên cương vị Phó Lãnh sự, nhiệm vụ bí mật chính của Sugihara vốn là theo dõi sát sao sự di chuyển quân sự của cả Liên Xô lẫn Đức. [5][1][6]
Khoảng bình yên mong manh ở thành phố này không kéo dài được lâu. Vào tháng 6 năm 1940, Liên Xô sáp nhập Litva và hạ lệnh giải thể tất cả các cơ quan lãnh sự nước ngoài đóng trên lãnh thổ này, đồng nghĩa với việc cánh cửa của các cơ quan đại diện ngoại giao sắp sửa phải đóng lại hoàn toàn. Khi các ngả đường thoát thân đều bị siết chặt, niềm hy vọng sống sót của đám đông ngoài cổng dồn cả vào cơ hội xin một tấm thị thực quá cảnh để đi qua Nhật Bản, nhưng rào cản ngăn họ lại là một quy chế hành chính vô cùng ngặt nghèo. Luật lệ Nhật Bản thời điểm đó quy định nghiêm ngặt rằng thị thực quá cảnh chỉ được cấp cho những người có đầy đủ thủ tục di trú, có đủ tiền bạc và bắt buộc phải sở hữu sẵn thị thực của quốc gia đích đến tiếp theo. Hầu như không ai trong số hàng trăm con người đang chen chúc ngoài kia đáp ứng nổi những tiêu chuẩn giấy tờ ấy. [5][1]
Đứng bên cửa sổ nhìn xuống cánh cổng sắt bị vây kín, vị phó lãnh sự hiểu rằng bất kỳ sự nhân nhượng nào trước đám đông tuyệt vọng cũng đồng nghĩa với việc công khai làm trái quy định ngặt nghèo từ chính quốc. [5][1]
Ba bức điện cự tuyệt từ Tokyo
Để tìm một lối thoát hợp pháp cho đám đông ngoài cổng, Sugihara đã gửi điện tín về Bộ Ngoại giao Nhật Bản ba lần để xin chỉ thị. Nhưng cả ba lần gửi đi, Bộ đều kiên quyết trả lời rằng chỉ cấp thị thực cho người có visa điểm đến và tuyệt đối không có ngoại lệ. Theo người con trai Nobuki, sau khi Sugihara gửi yêu cầu lần thứ hai về Tokyo, Bộ Ngoại giao thậm chí đã ra lệnh cấm ông không được hỏi lại về vấn đề này thêm một lần nào nữa. [1][6]
Trước bức tường thủ tục lạnh lùng từ thượng tầng, vị phó lãnh sự cùng vợ đối diện với một lựa chọn có thể định đoạt toàn bộ tương lai của gia đình. Bà Yukiko kể lại hai vợ chồng đã trao đổi kỹ lưỡng trước khi bắt đầu viết thị thực và đồng lòng hành động, dù hiểu rất rõ cả Tokyo lẫn Berlin đều sẽ phản đối kịch liệt. Bà cho biết chồng mình nhận thức sâu sắc việc bản thân có thể bị sa thải nếu bị phát giác, nhưng ông vẫn kiên quyết làm đến cùng nhờ có thể lực dẻo dai phi thường. [1][7]
Biết rõ những người xin visa sẽ rơi vào hiểm cảnh nếu ở lại vùng đất này, Sugihara quyết định làm trái lệnh cấp trên và bắt đầu cấp hơn 2.100 thị thực từ ngày 18 tháng 7 đến ngày 28 tháng 8 năm 1940. Quyết định mạo hiểm ấy không xuất phát từ toan tính chính trị nào; khi được con trai hỏi về nguyên nhân cứu người, Sugihara chỉ trả lời giản dị đúng một câu rằng ông làm vậy đơn giản vì thấy thương xót họ. [1][6]
Sau cánh cửa lãnh sự quán, sự nghiêm ngặt của thủ tục hành chính phải nhường chỗ cho tình người trước cơn hoạn nạn. Nhân chứng Lucille Szepsenwol Camhi nhớ lại rằng khi hai chị em bà van nài, Sugihara nhìn họ đầy thông cảm rồi lập tức đóng dấu cấp visa ngay tại chỗ, dù mẹ của hai chị em lúc đó không hề có giấy tờ. [1]
Cuộc chạy đua mở đường ống xuyên Sibir
Trước khi Sugihara có thể đặt bút cấp thị thực quá cảnh, những người tị nạn cần một điểm đến hợp pháp trên giấy tờ để hợp thức hóa hồ sơ. Lối thoát bất ngờ mở ra từ một kẽ hở hành chính của người Hà Lan: Đại sứ De Dekker đã chấp thuận bỏ vế yêu cầu phải có giấy phép nhập cảnh của thống đốc trên giấy tờ thông hành, chỉ để lại dòng chữ xác nhận không cần thị thực đến hòn đảo Curaçao. Dựa vào giải pháp đó, từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 3 tháng 8 năm 1940, Quyền Lãnh sự danh dự Hà Lan Jan Zwartendijk đã miệt mài cấp xác nhận đến Curaçao vào hộ chiếu cho hơn 2.200 người Do Thái tại Kaunas. [1]
Có được tấm giấy thông hành ghi điểm đến trên danh nghĩa, rào cản tiếp theo là làm sao đưa dòng người này băng qua nửa vòng Trái Đất khi các ngả đường biển đều bế tắc. Tuyến đường bộ khả dĩ duy nhất là tuyến Đường sắt xuyên Sibir, và Sugihara đã đứng ra thương lượng thành công với các quan chức Liên Xô để người Do Thái được phép quá cảnh lãnh thổ. Đích thân Stalin đã ký sắc lệnh cho phép người tị nạn Do Thái quá cảnh, trong đó văn kiện Liên Xô chỉ định rõ các đối tượng gồm giáo viên, học sinh trường yeshiva, thương nhân, luật sư và người làm nghề tự do. [1][6]
Hành lang xuyên Sibir đã thông suốt, nhưng thời gian không còn nhiều cho những người chậm chân. Sugihara dồn hết sức làm việc với tốc độ cao, tự đặt mục tiêu viết tay từ 200 đến 300 thị thực mỗi ngày. Để giải tỏa áp lực công việc khổng lồ, Daszkiewicz khai rằng chính ông đã đề xuất làm một con dấu cao su nhằm đẩy nhanh tốc độ làm visa, đồng thời mạng lưới Ba Lan còn bí mật làm thêm một con dấu nữa để tự cấp thị thực lùi ngày sau khi lãnh sự quán đóng cửa. Theo ghi chép của Daszkiewicz, ban đầu số lượng thị thực dự định phát hành chỉ là 600 bản, nhưng trên thực tế họ đã cấp ra khoảng 900 chiếc. [1][7]
Sức giải cứu của mỗi tấm giấy thông hành còn nhân lên gấp bội nhờ cách vận dụng linh hoạt của người cấp. Nhiều thị thực do Sugihara cấp mang tên của chủ hộ gia đình, cho phép họ đưa cả vợ con lẫn thân nhân đi cùng theo diện phụ thuộc để cùng bước lên chuyến tàu thoát nạn. [1]
Những chữ ký cuối cùng trên sân ga Kaunas
Sau khi lãnh sự quán bị giải thể, Sugihara đã đốt toàn bộ tài liệu mật rồi chuyển gia đình tới ở tại Khách sạn Metropolis. Dưới sự thúc ép đóng cửa gắt gao của chính quyền Liên Xô, ông vẫn không chịu dừng tay mà tiếp tục miệt mài viết thị thực cho đến ngày 4 tháng 9 năm 1940, thời điểm ông buộc phải rời khỏi vị trí công tác. [7][1]
Thời gian cạn kiệt dần theo từng giờ phút di chuyển của gia đình viên ngoại giao. Về những khoảnh khắc cuối cùng của cha mình tại Kaunas, người con cả Hiroki kể lại rằng ông vẫn tiếp tục ký thị thực tại sân ga và ném những cuốn hộ chiếu đã đóng dấu cuối cùng ra ngoài cửa sổ toa tàu. Trái lại, người con trai Nobuki nhận định Sugihara có thể chỉ lén lút ký vài thị thực cuối cùng cho người trên sân ga, chứ hoàn toàn không có chuyện ném giấy tờ ra khỏi đoàn tàu giữa vòng vây lính Liên Xô. [1][6]
Trước khi đoàn tàu chuyển bánh, Sugihara cúi đầu tạ lỗi với những người còn ở lại vì không thể viết thêm được nữa và chúc họ những điều tốt đẹp nhất. Giữa sân ga Kaunas nghẹn ngào, một người tị nạn đã hô to rằng họ sẽ không bao giờ quên ơn Sugihara và quả quyết sẽ có ngày gặp lại ông. [1]
Khối lượng công việc khổng lồ mà Sugihara thực hiện trong những tuần lễ căng thẳng tại Baltic nhanh chóng được ông đúc kết trong các văn bản ngoại giao. Bản báo cáo do Sugihara gửi về Bộ Ngoại giao từ Praha khẳng định ông đã cấp ra 2.092 thị thực quá cảnh tại Kaunas. Nguy cơ kỷ luật từ Tokyo cũng không chặn được quyết định của ông, khi các tài liệu sau này chứng minh rằng ngay cả khi đã chuyển sang Praha, Sugihara vẫn tiếp tục lén cấp thêm 69 thị thực trái phép nữa. [7][5]
Phía sau những giai thoại về chuyến tàu lánh nạn
Những câu chuyện truyền miệng về cuộc đào thoát nhanh chóng phủ lên sự kiện lịch sử nhiều chi tiết kịch tính. Nhiều người từng đồn rằng bà Yukiko ngày nào cũng xoa bóp đôi bàn tay phồng rộp vì viết hàng trăm thị thực giúp chồng. Một số tài liệu còn lưu truyền chi tiết rằng trong cơn tuyệt vọng cuối cùng, Sugihara đã ném những tờ giấy trắng chỉ mang dấu lãnh sự và chữ ký vội vã ra ngoài đoàn tàu. Tuy nhiên, người con trai út Nobuki đã bác bỏ câu chuyện xoa bóp tay lãng mạn hóa đó, bởi trên thực tế mẹ và các anh của ông khi ấy đã sơ tán đến ở tại một khách sạn gần đó để đảm bảo an toàn. Nobuki cũng khẳng định giai thoại về việc cha ném những tờ thị thực trắng qua cửa sổ tàu hỏa khi rời Kaunas là hoàn toàn không đúng sự thật. Người con trai này cũng kiên quyết phủ nhận tin đồn cho rằng Sugihara đã để lại con dấu chính thức của lãnh sự quán cho người tị nạn làm giả giấy tờ. [6][1]
Để chi trả cho chuyến đi đường sắt xuyên Sibir đến Nhật Bản của 1.700 người, tổ chức cứu trợ JDC đã phối hợp với các hội Do Thái tại Mỹ quyên góp toàn bộ ngân sách cần thiết. Bên cạnh nguồn tài chính, hồ sơ lưu trữ của hãng du lịch Liên Xô Intourist cho thấy số trẻ em thực tế đi cùng trên các thị thực của Sugihara ít hơn so với số liệu các sách sử thường ước tính. Nhờ những tấm vé và giấy tờ hợp lệ đó, vào tháng 7 năm 1940, người tị nạn Do Thái bắt đầu cập cảng Nhật Bản tại các địa điểm Tsuruga, Shimonoseki và Kobe. [1][8]
Tại điểm đến, mạng lưới ngoại giao tiếp tục dang tay che chở cho họ trước những biến động thời cuộc. Đại sứ Ba Lan tại Tokyo Tadeusz Romer đã lập ủy ban cứu trợ, vận động tài chính và thu xếp nơi cư ngụ ở Kobe cho dòng người Do Thái thoát sang Nhật Bản. Dù vậy, chặng dừng chân an toàn này không kéo dài được bao lâu. Đến cuối năm 1941, khi đại sứ quán Ba Lan đóng cửa, chính quyền Nhật Bản đã cưỡng bách di chuyển khoảng 1.000 người tị nạn Do Thái còn lại sang Thượng Hải. [7]
Về quy mô thực sự của cuộc giải cứu, trong một bức thư sau chiến tranh gửi học giả Ba Lan, Sugihara tự ước tính rằng có khoảng 3.500 người có thể đã thoát nạn nhờ các thị thực của ông. Hàng ngàn mạng người đã may mắn sống sót qua cơn bão diệt chủng nhờ lòng trắc ẩn của viên phó lãnh sự đơn độc. [6]
Bánh mì quệt bơ mỏng và sự tri ân muộn màng
Sóng gió ập đến ngay giữa cuộc chiến khi phía Đức Quốc xã gây sức ép buộc Bộ Ngoại giao Nhật Bản triệu hồi Sugihara như một nhân vật không được hoan nghênh vào mùa thu năm 1942. Đến năm 1945, khi Romania rơi vào tay quân đội Liên Xô, gia đình ông bị giam giữ hơn một năm trong trại thực tập dành cho ngoại giao đoàn. Được phóng thích vào năm 1946, họ tiếp tục bị Liên Xô giữ lại nhiều tháng tại Vladivostok trên đường hồi hương về nước. Sau khi trở về Tokyo năm 1947, Sugihara lập tức đối mặt với sức ép nặng nề buộc phải nộp đơn xin từ chức khỏi Bộ Ngoại giao Nhật Bản. Dù chính quyền đưa ra nguyên nhân chính thức là việc tinh giản biên chế ngoại giao đoàn dưới thời kỳ quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật Bản, ông luôn tin rằng đây là đòn trừng phạt trực tiếp từ việc mình tự ý cấp thị thực trái phép tại Kaunas năm 1940. Mất đi sự nghiệp, người cựu viên chức phải chật vật làm nghề dịch thuật, thông dịch viên và nhiều năm làm quản lý cho công ty xuất nhập khẩu tại Moscow để kiếm sống. Người con trai Nobuki nhớ mãi những năm 1950 và 1960 khi cha dạy kèm toán và tiếng Anh, thường quệt bơ lên bánh mì mỏng đến mức không ai cạnh tranh nổi. [7][4][6]
Nghĩa cử của Sugihara hoàn toàn chìm trong quên lãng cho đến cuối thập niên 1960, khi một người sống sót nhờ visa tìm được tung tích của ông. Nobuki kể lại rằng vào năm 1969, khi một nhà ngoại giao Israel tìm đến, gia đình ông vẫn không hay biết quy mô của kỳ tích vì cha ông không bao giờ khoe khoang như một anh hùng. Đến năm 1984, hai năm trước khi mất, Sugihara được tổ chức Yad Vashem của Israel vinh danh danh hiệu «Người công chính giữa các quốc gia». Buổi lễ chính thức trao giải diễn ra vào năm 1985 tại Đài tưởng niệm Holocaust ở Jerusalem và một cây xanh đã được trồng để tôn vinh ông. Chiune Sugihara qua đời vào ngày 31 tháng 7 năm 1986 sau nhiều thập kỷ sống trong sự thầm lặng tại quê nhà. [4][6][1]
Số lượng hậu duệ ngày nay của những người Do Thái từng nhận thị thực thoát nạn từ Sugihara được ước tính nằm trong khoảng từ 40.000 đến 100.000 người. [1]
Nguồn
- Chiune Sugihara (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Passage to freedom : the Sugihara story : Mochizuki, Ken, 1954- : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
- A special fate : Chiune Sugihara, hero of the Holocaust : Gold, Alison Leslie : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
- Sugihara: Conspiracy of Kindness . Readings + Video . Who Was Chiune Sugihara? | PBS (www.pbs.org, bài viết)
- Sugihara: Conspiracy of Kindness . Interactive Timeline (text-only) | PBS (www.pbs.org, bài viết)
- My father, the quiet hero: how Japan’s Schindler saved 6,000 Jews | Second world war | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
- Asiatic Society of Japan, March 1995 lecture (web.archive.org, bài viết)
- The issuance of visas to war refugees by Chiune Sugihara as reflected in the documents of Russian archives (eltalpykla.vdu.lt, bài viết)
- The Asiatic Society of Japan (web.archive.org, bài viết)
Ảnh bìa: Unknown author Unknown author · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.