Witold Pilecki: Người sĩ quan Ba Lan tình nguyện vào trại Auschwitz để lập mạng lưới kháng chiến

Sáng ngày 19 tháng 9 năm 1940, tại quận Żoliborz ở Warsaw, lính Đức bủa vây các ngả đường trong một đợt càn quét quy mô lớn. Giữa đám đông hỗn loạn đang tìm cách lẩn trốn, Witold Pilecki, một sĩ quan kỵ binh kiêm điệp viên tình báo Ba Lan, đã đưa ra một lựa chọn khác thường khi chủ động để lính Đức bắt giữ ngay trong cuộc vây ráp đó. Trong túi áo, ông mang theo bộ giấy tờ tùy thân mang tên Tomasz Serafiński, một người khi ấy bị lầm tưởng là đã chết ngoài đời thực. Người sĩ quan chấp nhận để đối phương bắt giữ nhằm thực hiện mục đích thâm nhập vào trại giam Auschwitz. [1][2]
Vào năm 1940, người ngoài chỉ xem Auschwitz như một trại giam giữ hoặc nhà tù lớn chứ hoàn toàn chưa biết đó là trại hủy diệt hàng loạt. Cùng với 1.705 tù nhân khác trên chuyến tàu bị áp giải, người mang thân phận Tomasz Serafiński bị đưa đến Auschwitz trong khoảng ngày 21 đến 22 tháng 9 năm 1940 và nhận số tù 4859. Theo một thông tin trên Đài Phát thanh Ba Lan, ông bước qua hàng rào trại vào đêm 20 rạng sáng 21 tháng 9 năm 1940. [1][8]
Điều gì đã thôi thúc một thủ lĩnh kháng chiến trong Thế chiến II, người từng hoạt động dưới các bí danh Roman Jezierski, Druh hay Witold, tự nguyện dấn thân vào chốn lao tù khốc liệt? [1]
Nhiệm vụ bất đắc dĩ từ một rạn nứt nội bộ
Đêm 5 rạng ngày 6 tháng 9 năm 1939, tại Piotrków Trybunalski, đòn tấn công của Quân đoàn Thiết giáp XVI của Đức đã xóa sổ gần như toàn bộ Sư đoàn Bộ binh 19 của Pilecki. Thoát khỏi trận địa, ông gia nhập Sư đoàn 41 dưới quyền Thiếu tá Włodarkiewicz và dẫn dắt đơn vị kỵ binh kiên cường đánh trả. Trong các cuộc giao tranh, toán quân của ông đã bắn hạ 1 máy bay, phá hủy 7 xe tăng và 2 máy bay Đức ngay trên mặt đất. Khi Sư đoàn 41 tan rã sau ngày 17 tháng 9 năm 1939, Pilecki cùng Thiếu tá Włodarkiewicz đã khước từ mệnh lệnh rút sang Romania, quyết định ở lại Ba Lan để chuyển sang chiến đấu bí mật. [1]
Ngày 9 tháng 11 năm 1939 tại Warsaw, ông cùng Thiếu tá Włodarkiewicz và các đồng chí thành lập tổ chức ngầm mang tên Quân đội Bí mật Ba Lan (TAP). Nhưng mối liên kết giữa hai người từng sát cánh ngoài mặt trận sớm nảy sinh rạn nứt. Mùa xuân năm 1940, Pilecki nhận thấy quan điểm của Włodarkiewicz ngày càng mang hơi hướng bài Do Thái và cài cắm giáo điều dân tộc cực đoan vào bản tin Znak. [1]
Sự rạn nứt tiếp tục đào sâu khi Włodarkiewicz bí mật đàm phán sáp nhập với các phe nhóm cực hữu từng đề xuất lập một chính phủ bù nhìn thân Đức Quốc xã ở Ba Lan. Nhằm ngăn cản Włodarkiewicz, Pilecki đã tìm đến Đại tá Stefan Rowecki, chỉ huy của Liên minh Đấu tranh Vũ trang (ZWZ), một tổ chức ủng hộ quyền bình đẳng của người Do Thái. [1]
Thế đối đầu bùng nổ khi Włodarkiewicz ra bản tuyên ngôn đòi trục xuất những ai không ủng hộ Ba Lan thuần Ki-tô giáo, khiến Pilecki từ chối tuyên thệ theo văn bản này. Đến tháng 8 năm 1940, Włodarkiewicz đưa ra đề nghị Pilecki thâm nhập trại Auschwitz; ông coi lời mời tình nguyện này như một hình phạt vì đã chống lại ý thức hệ của Włodarkiewicz. [1]
Mạng lưới tổ năm người trong bóng tối trại tập trung
Ngay sau khi bước qua cổng trại Auschwitz, Witold Pilecki bắt tay vào việc gầy dựng lực lượng kháng chiến. Nhóm bí mật đầu tiên giữa các bạn tù Warsaw mang tên Tổ chức Quân sự Bí mật (TOW), vận hành theo các tổ năm người. Mô hình các tổ năm người hoạt động độc lập và hoàn toàn không biết về nhau trong trại chính là sáng kiến tổ chức kháng chiến của Pilecki. Khi phát triển thành Liên minh Tổ chức Quân sự (ZOW), mạng lưới này nhận nhiệm vụ nâng đỡ tinh thần cho tù nhân, truyền tin tức từ bên ngoài vào, phân phát thêm thực phẩm và quần áo, đồng thời xây dựng mạng lưới tình báo và huấn luyện sẵn sàng cho việc tiếp quản trại. [2][8][1]
Bên trong hàng rào kẽm gai, hàng loạt nhân vật nổi tiếng đã gia nhập mạng lưới ZOW của Pilecki, trong đó có nhà điêu khắc Xawery Dunikowski và vận động viên trượt tuyết Bronisław Czech. Để giữ vững mắt xích liên lạc, bản thân Pilecki phải trả giá bằng những tổn hại nặng nề về thể xác. Ông đã sống sót qua vô số trận đòn roi tàn nhẫn và hai cơn viêm phổi nặng trong trại giam. Suốt thời gian bị đày ải ở Auschwitz, ông mắc bệnh nặng ba lần nhưng đều bình phục nhờ sự chăm sóc của bác sĩ Jan Dering, một quân nhân thuộc phong trào TAP. [5][9][2]
Lòng nhiệt thành không màng quyền bính của Pilecki đã trở thành chất keo gắn kết các bạn tù, giúp quy tụ các phái kháng chiến phân tán trong Auschwitz dưới quyền chỉ huy chung của Đại tá Kazimierz Heilman-Rawicz. Vào đêm Giáng sinh năm 1941, ông đã đứng ra dàn xếp một cuộc gặp mang tính biểu tượng giữa Stanisław Dubois, thủ lĩnh cánh tả, và Jan Mosdorf, lãnh đạo phái dân tộc cực đoan. Hai phe phái chính trị từng đối nghịch gay gắt ngoài xã hội đã chấp nhận ngồi lại bên nhau trước kẻ thù chung. [2][8]
Những nỗ lực âm thầm trong trại tử thần nhanh chóng được ghi nhận từ bên ngoài. Vào mùa thu năm 1941, Pilecki được những người chỉ huy ở Warsaw ngoài trại thăng quân hàm lên trung úy. Đến tháng 11 năm 1941, chính Tướng Stefan Rowecki đã ký quyết định phong thăng quân hàm trung úy cho ông. Quyết định phong cấp này là bằng chứng xác nhận Pilecki vào trại theo lệnh tự nguyện, bởi vì quân đội ngầm Ba Lan có nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ thăng hàm cho tù nhân. [1][5][2]
Đài phát thanh tự chế và những bản báo cáo gửi Đồng Minh
Tháng 10 năm 1940, bản báo cáo đầu tiên do Witold Pilecki chuyển ra ngoài đã vạch trần cách thức bộ máy phát xít hủy diệt tù nhân bằng bỏ đói và các hình phạt tàn độc, trở thành cơ sở cho những báo cáo đầu tiên về sự khủng bố của quân Đức. Sang năm 1941, các tin tức tình báo do ông tuồn ra tiếp tục được phe Đồng Minh tiếp nhận, nằm trong số những nguồn tin xác thực sớm nhất về những gì đang xảy ra bên trong Auschwitz. [1][4]
Tội ác sau bức tường rào ngày càng leo thang khi các công trình giết người hàng loạt bắt đầu vận hành. Pilecki từng tận mắt chứng kiến tù binh Liên Xô và người Do Thái bị lèn chặt vào buồng ngạt đến mức lúc chết cũng không thể ngã gục xuống sàn. Trong một báo cáo gửi ra ngoài, ông đau đớn ghi lại cảnh tù nhân bị cai ngục ép phải thi công các buồng ngạt và lò hỏa táng: «Chúng tôi đang tự xây lò thiêu cho chính mình». [9]
Để chủ động phát thông tin ra thế giới bên ngoài, suốt bảy tháng trong năm 1942, mạng lưới của Pilecki đã gom góp các linh kiện buôn lậu để lắp ráp thành công một đài phát thanh bí mật. Dù vậy, đến mùa thu năm 1942, đài phát thanh ngầm này phải tháo dỡ do các thành viên sợ lính Đức lần ra dấu vết từ sự hớ hênh của một tù nhân trong nhóm. [1]
Bất chấp nguy hiểm rình rập, mạng lưới kháng chiến ngầm do Pilecki tổ chức trong địa ngục Auschwitz vẫn mở rộng với quy mô lên tới 1.000 tù nhân, dù một ghi nhận khác cho rằng lực lượng này bao gồm hàng trăm người. [9][1]
Pilecki hy vọng quân Đồng Minh sẽ ném bom Auschwitz và phong trào ngầm Ba Lan mở cuộc tấn công phối hợp để giải phóng các tù nhân. Thế nhưng, khi những báo cáo gửi đi vẫn chưa nhận được sự tiếp ứng từ bên ngoài, vòng vây truy lùng của mật vụ Gestapo bắt đầu siết chặt lấy những người đứng đầu mạng lưới. [9]
Cuộc đào tẩu đêm Phục sinh qua lò bánh mì
Tại trại giam, cơ quan Gestapo dưới sự chỉ huy của SS-Untersturmführer Maximilian Grabner ráo riết truy lùng và sát hại nhiều thành viên của mạng lưới ZOW. Mùa xuân năm 1943, trước nguy cơ các tổ chức bí mật bị triệt phá và quân Đức dự định chuyển những tù nhân lâu năm về nội địa, Pilecki quyết định phải vượt ngục. Sau hai năm rưỡi ở trại, ông sử dụng giấy tờ giả để xin được phân công làm việc tại một lò bánh mì nằm ngoài hàng rào điện nhằm tìm cơ hội đào tẩu. [1][8][9]
Thời cơ hành động mở ra vào đúng đêm Lễ Phục sinh năm 1943. Đêm 26 rạng ngày 27 tháng 4 năm 1943, trong lúc làm ca đêm tại lò bánh mì, Pilecki cùng hai đồng đội phá cửa sắt, hạ gục lính gác, cắt đường điện thoại và trốn thoát. [9][1]
Ba người đào tẩu chạy dọc theo đường ray xe lửa đến sông Soła, rồi vượt dòng sông Vistula bằng một chiếc thuyền tình cờ tìm thấy. Khi tới Alwernia, nhóm vượt ngục của Pilecki được một vị linh mục cho ăn uống và tìm người dẫn đường hỗ trợ đưa đi tiếp. [5]
Họ tiếp tục lộ trình qua Tyniec, vùng Wieliczka và Rừng Niepołomice để tới Bochnia, sau đó Pilecki đến Nowy Wiśnicz và tìm gặp được chính Tomasz Serafiński thật ngoài đời. Tomasz Serafiński đã giúp Pilecki bắt liên lạc với các đơn vị Quân đội Quê hương (AK) để ông trực tiếp đệ trình phương án giải phóng Auschwitz. [5]
Dù Pilecki gửi báo cáo xin phép khởi nghĩa giải phóng trại, Bộ chỉ huy Quân đội Quê hương không bao giờ đưa ra hồi đáp chấp thuận kế hoạch này. [1]
Khởi nghĩa Warsaw và sự lựa chọn quay về nước
Trở lại thế giới ngầm tại Warsaw, Witold Pilecki tiếp tục chuỗi ngày chiến đấu không ngơi nghỉ. Giai đoạn 1943–1944, ông phục vụ tại Cục III Kedyw thuộc Bộ Chỉ huy Quân đội Quê hương (AK) và từng làm Phó chỉ huy Lữ đoàn Tình báo «Kameleon» – «Jeż». Giữa những hiểm nguy chiến tranh, gia đình nhỏ của ông cũng phải tự tìm đường sống sót: vợ và các con của Pilecki tại Sukurcze từng phải lẩn trốn sự truy bắt của NKVD để khỏi bị đày sang Siberia, tới tháng 4 năm 1940 mới vượt biên thành công sang vùng Đức chiếm đóng. Bước vào Khởi nghĩa Warsaw năm 1944, ông ban đầu chấp nhận chiến đấu như một xạ thủ thường ở đại đội «Warszawianka», rồi sau đó trực tiếp chỉ huy một phân đội bám trụ tại cứ điểm «Pháo đài của Witold». [5][2]
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, từ năm 1944 đến 1945 Pilecki bị giam ở trại tù binh Oflag VII A tại Murnau trước khi sang Ý để gia nhập Quân đoàn 2 Ba Lan. Từng là một trong những nhân vật đồng sáng lập tổ chức kháng chiến chống Liên Xô mang tên «NIE», ông nhận rõ những mây mù chính trị đang bao trùm tương lai đất nước. Trước khi trở về Ba Lan năm 1945 giữa linh cảm có thể bị chính quyền cộng sản sát hại, Pilecki đã hoàn thiện bản thảo biên soạn «Báo cáo của Witold» nhằm lưu lại trọn vẹn những gì ông chứng kiến ở Auschwitz. [5][6][1]
Tháng 10 năm 1945, Pilecki quay về Ba Lan theo lệnh đích thân của Tướng Anders để làm công tác tình báo cho Quân đoàn 2. Trong khi đó, theo Bảo tàng Thế chiến II tại Gdańsk, chuyến trở về vào mùa thu năm 1945 lại xuất phát từ chính nguyện vọng tự nguyện của bản thân ông. [5][6]
Đặt chân trở lại quê hương giữa bầu không khí ngột ngạt của chính quyền mới, Pilecki lập tức tổ chức mạng lưới bí mật để nắm bắt tình hình đất nước. Ông cùng các đồng sự lần theo dấu vết của những đồng đội cũ, thu thập tin tức về các binh lính thuộc Quân đội Quê hương (AK) và Quân đoàn 2 đang bị giam cầm trong các trại của NKVD hoặc bị lưu đày sang Nga. [5]
Mắt xích tình báo hoạt động càng sâu thì vòng vây siết lại quanh ông càng hẹp. Nhận thấy nguy cơ bị an ninh cộng sản bắt giữ đã lộ rõ, Tướng Władysław Anders phát mệnh lệnh yêu cầu Pilecki rời khỏi Ba Lan, song ông đã không thực thi chỉ thị này. Đến năm 1947, Pilecki từng cân nhắc việc hưởng chính sách ân xá của chính quyền mới, nhưng rốt cuộc ông quyết định không ra trình diện. [8]
Phiên tòa bất công và sự thật được trả lại sau nửa thế kỷ
Ngày 8 tháng 5 năm 1947, Pilecki bị mật vụ thuộc Bộ Công an bắt giữ, sau đó bị tra tấn tàn nhẫn và bị cáo buộc làm gián điệp cho chính phủ lưu vong. Ngày 3 tháng 3 năm 1948, phiên tòa dàn dựng xét xử cái gọi là «Nhóm của Witold» bắt đầu tại Tòa án Quân sự Khu vực ở Warsaw. Phiên tòa xét xử ông chỉ có một thẩm phán và một hội thẩm, vi phạm nghiêm trọng quy định tố tụng lúc bấy giờ. Trớ trêu thay, cả công tố viên Czesław Łapiński và thẩm phán chủ tọa Jan Hryckowian kết tội Pilecki đều từng là các sĩ quan của Quân đội Quê hương (AK). Pilecki bị quy tội vượt biên bất hợp pháp, dùng giấy tờ giả, tàng trữ vũ khí, làm gián điệp cho Quân đoàn 2 và chuẩn bị ám sát quan chức Bộ Công an. Đứng trước tòa, ông kiên quyết phủ nhận âm mưu ám sát, khẳng định hành động tình báo chỉ là báo cáo cho Quân đoàn 2 mà ông vẫn coi mình là sĩ quan, nhưng thừa nhận các cáo buộc khác. Dù cựu tù nhân Auschwitz van xin Thủ tướng Józef Cyrankiewicz can thiệp tha mạng, Cyrankiewicz đã ra dấu cho tòa không được giảm nhẹ hình phạt cho Pilecki. Theo nhà sử học Jacek Pawłowicz, Cyrankiewicz không chỉ ngó lơ mà còn tiếm quyền mạo nhận công lao xây dựng phong trào ngầm Auschwitz của Pilecki cho bản thân. [5][9][8]
Ngày 15 tháng 3 năm 1948, Tòa án tuyên án tử hình Pilecki, và Tổng thống Bolesław Bierut đã thẳng thừng bác bỏ đơn xin ân xá. Bản án tử hình đối với Pilecki được thực thi vào ngày 25 tháng 5 năm 1948 tại nhà tù Mokotów bằng một phát đạn bắn vào gáy. Cách xử bắn bằng phát súng kề sát sau gáy tại Mokotów này được người Ba Lan gọi là «phương pháp Katyn», mô phỏng cách mật vụ Liên Xô thủ tiêu tù nhân. Thi hài của Pilecki không được giao cho gia đình mà có khả năng lớn đã bị vùi lấp tại bãi rác gần nghĩa trang Powązki, thuộc khu đất cỏ mang ký hiệu «Łączka». Hố chôn bí mật tại nghĩa trang Powązki được các nhà nghiên cứu IPN nhận định chứa tới 100 thi thể của các tù nhân bị xử bắn tại nhà tù Mokotów từ 1948 đến 1956. Con trai của Pilecki là Andrzej khi bước sang tuổi 80 đã đến nghĩa trang Powązki để lấy mẫu xét nghiệm ADN với mong mỏi tìm được hài cốt cha mình. [5][9][8]
Dù nhà nghiên cứu Ewa Cuber-Strutyńska từng công bố bài phân tích lịch sử nhằm nghi ngờ sự xác đáng của hai cụm từ quen thuộc «người tình nguyện vào Auschwitz» và «tác giả báo cáo đầu tiên về Holocaust», nhà sử học người Anh Michael Foot từng bình chọn Witold Pilecki là một trong sáu nhân vật kháng chiến dũng cảm nhất trên toàn thế giới trong Thế chiến II. Năm 1990, Viện Kiểm sát Quân sự Tối cao Ba Lan đã xem xét lại vụ án, dẫn đến việc tuyên hủy bỏ toàn bộ bản án bất công đối với Pilecki vào năm 1991. Bản dịch tiếng Anh bản thảo năm 1945 về Auschwitz của Pilecki dựa trên tài liệu gốc lưu trữ tại Quỹ Nghiên cứu Phong trào Ngầm Ba Lan ở London. [7][8][5][4]
Nguồn
- Witold Pilecki (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Rotmistrz Witold Pilecki - Biogramy Postaci Historycznych (biogramy.ipn.gov.pl, nguồn gốc)
- 1901-1921 - Biogramy Postaci Historycznych (biogramy.ipn.gov.pl, nguồn gốc)
- The Auschwitz volunteer : beyond bravery : Pilecki, Witold, 1901-1948, author : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
- 65 lat temu rotmistrza Pileckiego skazano na śmierć - Muzeum Historii Polski (web.archive.org, bài viết)
- 71 lat temu, 15 marca 1948 r. rotmistrz Witold Pilecki został skazany na karę śmierci — Muzeum II Wojny Światowej w Gdańsku (muzeum1939.pl, bài viết)
- Witold Pilecki. Confronting the legend of the “volunteer to Auschwitz” | Zagłada Żydów. Studia i Materiały (www.zagladazydow.pl, bài viết)
- Włoch od rotmistrza Pileckiego - Dwójka (polskieradio.pl, bài viết)
- Poland Searches for Remains of World War II Hero Witold Pilecki - DER SPIEGEL (www.spiegel.de, bài viết)
Ảnh bìa: Bahnfrend · CC BY-SA 4.0 · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.