Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Tàu ngầm B-59 và lá phiếu của Vasili Arkhipov chặn đứng chiến tranh hạt nhân năm 1962

· Nhân vật

Ảnh tư liệu: Vasili Arkhipov (Image courtesy by Olga Arkhipova · CC BY-SA 4.0 · Wikimedia Commons)
Ảnh bìa: Image courtesy by Olga Arkhipova · CC BY-SA 4.0 · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.

Ngày 27 tháng 10 năm 1962, sâu dưới vùng biển gần Cuba, chiếc tàu ngầm chạy diesel B-59 mang vũ khí hạt nhân bị phát hiện bởi một nhóm chiến hạm Mỹ gồm 11 tàu khu trục và tàu sân bay USS Randolph. Ngay sau đó, tàu khu trục USS Beale bắt đầu thả các đợt bom chìm diễn tập xuống vùng nước quanh chiếc tàu ngầm. Lực nổ dội vào vỏ thép dữ dội đến mức sĩ quan Vadim Orlov sau này nhớ lại cảm giác ấy giống hệt như đang ngồi trong một chiếc thùng sắt bị ai đó dùng búa tạ giáng đòn liên tiếp, khiến cả thủy thủ đoàn choáng váng. [1][5][8]

Đợt oanh tạc kéo dài suốt nhiều giờ khiến dưỡng khí trong khoang sụt giảm nghiêm trọng, trong khi nhiệt độ bên trong tàu B-59 vọt lên vượt quá 122 độ F làm một số thủy thủ ngất xỉu. Trong cơn kiệt sức cùng nỗi đinh ninh rằng con tàu sắp bị tận diệt, Thuyền trưởng Savitsky thét lên đòi nổ tung tất cả, thà chết chứ dứt khoát không chịu để hạm đội phải chịu hổ thẹn. Ông lập tức ra lệnh chuẩn bị bắn quả ngư lôi hạt nhân 10 kiloton nhắm thẳng vào tàu sân bay USS Randolph. [8][3][5]

Chỉ một mệnh lệnh nữa, quả vũ khí nguyên tử sẽ rời ống phóng và kéo cả hành tinh vào thảm họa diệt vong. Nhưng ngay tại lằn ranh nghẹt thở ấy, giữa khoang tàu ngột ngạt và sự hoảng loạn tột cùng của vị thuyền trưởng, vẫn còn một sĩ quan kiên quyết đứng ra nói lời từ chối.

Mật lệnh vượt 7.000 dặm và chiếc bẫy nhiệt đới

Kế hoạch cho hải trình này xuất phát từ bản báo cáo tiến độ Chiến dịch Anadyr ngày 25 tháng 9 năm 1962, trù tính trang bị cho mỗi tàu ngầm trong lữ đoàn một quả ngư lôi hạt nhân. Ngày 1 tháng 10 năm 1962, bốn tàu ngầm tấn công Foxtrot gồm B-4, B-36, B-59 và B-130 thuộc Lữ đoàn Tàu ngầm số 69 của Liên Xô rời Vịnh Sayda gần Murmansk. Nhiệm vụ bí mật vượt 7.000 dặm từ vòng Bắc Cực qua Đại Tây Dương để tới Vịnh Mariel ở Cuba chỉ có một số ít quan chức Đảng Cộng sản được biết trước. [2][4][7]

Khi lên đường, các thủy thủ chỉ được cấp quân phục nhiệt đới và mang theo mệnh lệnh tuyệt mật là lập một căn cứ tại Mariel. Nằm sâu trong khoang chứa của mỗi chiếc tàu ngầm là một thứ vũ khí đặc biệt: quả ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân có sức công phá tương đương quả bom ném xuống Hiroshima. Riêng quả ngư lôi hạt nhân nằm trên tàu B-59 sở hữu đương lượng nổ tương đương 10 kiloton. [4][7][3]

Kế hoạch lập căn cứ ban đầu nhanh chóng bị xáo trộn trước diễn biến mới. Ngày 15 tháng 10 năm 1962, các tàu ngầm nhận lệnh thay đổi hướng đi: chuyển sang lập hàng rào phòng thủ ở phía bắc Turks Island Passage và tiến vào vị trí chiến đấu tại biển Sargasso. [4]

Khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt nhanh chóng biến những con tàu vốn được đóng cho vùng nước lạnh Bắc Cực thành chiếc bẫy nghẹt thở. Nhằm né tránh các đợt truy lùng gắt gao của đối phương, tàu B-59 liên tục phải lặn sâu. Ở độ sâu ấy, con tàu không thể bắt được sóng vô tuyến, khiến hệ thống liên lạc với Moscow bị cắt đứt hoàn toàn suốt nhiều ngày. [1]

Giữa lòng biển Sargasso, sự cô lập hoàn toàn khiến tình cảnh trong tàu thêm ngột ngạt. Trước nguy cơ xung đột bùng phát, Arkhipov vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh nhờ trải nghiệm đau thương từ thảm kịch mà ông từng trực tiếp nếm trải.

Ký ức rực lửa từ thảm kịch tàu ngầm K-19

Tháng 7 năm 1961, Vasili Arkhipov nhận quyết định bổ nhiệm làm phó chỉ huy kiêm sĩ quan điều hành của tàu ngầm tên lửa đạn đạo K-19 thuộc lớp Hotel. Đây là lớp tàu ngầm đầu tiên của Liên Xô được trang bị vũ khí hạt nhân. Vai trò đầy áp lực của ông trên con tàu ngầm nguyên tử này về sau trở thành nguyên mẫu cho nhân vật Thuyền trưởng Mikhail Polenin, do nam diễn viên Liam Neeson thủ vai trong bộ phim điện ảnh *K-19: The Widowmaker* phát hành năm 2002. [1][9]

Vasili Arkhipov nhận quyết định bổ nhiệm làm phó chỉ huy kiêm sĩ quan điều hành của tàu ngầm K-19 vào tháng 7 năm 1961.

Bi kịch ập đến khi K-19 đang tham gia một đợt diễn tập quân sự ở vùng biển phía đông nam Greenland. Hệ thống làm mát lò phản ứng bất ngờ gặp sự cố rò rỉ lớn rồi hỏng hoàn toàn, đẩy nhiệt độ lõi lò phản ứng tăng vọt. Đúng vào thời điểm hiểm nghèo ấy, hệ thống vô tuyến trên tàu cũng bị mất liên lạc, cắt đứt mọi hy vọng nhận hướng dẫn hay sự trợ giúp từ Moscow. [1]

Giữa tình thế bị cô lập hoàn toàn và đối mặt với nguy cơ tan chảy lò phản ứng, Thuyền trưởng Nikolai Zateyev đã ra lệnh cho bảy kỹ sư tìm giải pháp chế tạo một hệ thống làm mát phụ. Không có phương tiện che chắn an toàn, các kỹ sư phải trực tiếp lao vào vùng nhiễm xạ dày đặc để lắp ráp các đường ống dẫn nước khẩn cấp cứu lấy con tàu. [1]

Dù giữ cho lò phản ứng không bị phát nổ, cái giá phải trả về sinh mạng lại vô cùng khủng khiếp. Toàn bộ bảy kỹ sư và sĩ quan phụ trách phân đội của họ trên tàu K-19 đã qua đời trong vòng một tháng do hội chứng nhiễm xạ cấp tính, và thêm 15 người chết sau đó hai năm. Vì những di chứng hủy diệt tàn khốc kéo dài này, con tàu K-19 sau thảm kịch đã mang biệt danh «Hiroshima». [1][9]

Tận mắt chứng kiến đồng đội bị phóng xạ tàn phá cơ thể, Arkhipov thấu hiểu sâu sắc hiểm họa của thảm kịch hạt nhân. Trải nghiệm đau đớn ấy khắc sâu vào tâm trí, giúp người sĩ quan giữ trọn sự tỉnh táo khi đối mặt với hiểm nguy giữa biển sâu.

Vòng vây nghẹt thở trong lòng biển Sargasso

Ngày 22 tháng 10 năm 1962, Tổng thống Kennedy phát biểu trên truyền hình công bố bằng chứng tên lửa Liên Xô tại Cuba và ban bố lệnh phong tỏa hàng hải hòn đảo này. Sang ngày 23 tháng 10, Phó Đô đốc Griffin báo cáo với Bộ trưởng McNamara rằng bom chìm diễn tập sẽ là phương tiện hiệu quả nhất để phát tín hiệu buộc tàu ngầm Liên Xô phải nổi lên. Tối hôm đó, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Alexis Johnson đã ra lệnh chuyển giao văn bản Quy trình nổi lên và nhận dạng tàu ngầm cho chính phủ Liên Xô. [4]

Tuy nhiên, những tín hiệu ngoại giao ấy không thể chạm tới con tàu đang lặn sâu dưới lòng đại dương. Ngày 25 tháng 10 năm 1962, một máy bay P5M của Mỹ phát hiện tàu ngầm B-59 ở phía đông Bermuda và định danh là mục tiêu C-19. Một bức điện tín của quân đội Mỹ mô tả tàu C-19 liên tục nâng hạ cột buồm và ống thở, cho thấy dấu hiệu trục trặc hoặc đang sửa chữa hệ thống thủy lực. [4][2]

Vòng vây siết chặt khi các tàu khu trục Mỹ lao tới chặn đường tàu ngầm B-59 và ném lựu đạn gây choáng để buộc con tàu phải nổi lên mặt nước. Sổ nhật ký của tàu USS Beale và nhật ký hàng hải của tàu USS Cony đều ghi lại quá trình theo dấu, sử dụng bom chìm diễn tập cùng các biện pháp phát tín hiệu nhằm ép mục tiêu C-19 phải nổi lên vào tối ngày 27 tháng 10. [8][2]

Dưới lòng biển, chiếc tàu ngầm biến thành một cái bẫy nghẹt thở. Nhiệt độ bên trong B-59 đo được lên tới 37 độ C do hệ thống điều hòa ngừng chạy, khiến các thủy thủ ngất đi trong bầu không khí ngột ngạt. [9]

Do mất liên lạc hoàn toàn, thủy thủ đoàn tàu B-59 không hiểu được ý định thả bom cảnh báo của Mỹ và nghĩ rằng họ đang chứng kiến Thế chiến III bùng nổ. Sự ngột ngạt cùng những đợt nổ dồn dập khiến Thuyền trưởng Valentin Savitsky rơi vào trạng thái hoảng loạn và giận dữ tột cùng, đẩy tình thế trượt thẳng tới khoảnh khắc ngón tay đặt lên nút bấm hạt nhân. [3]

Quyền phủ quyết của chiếc chìa khóa thứ ba

Một vụ nổ mạnh bất ngờ dội tới làm rung chuyển toàn bộ thân tàu B-59. Cơn thịnh nộ bùng phát, Thuyền trưởng Valentin Savitsky lập tức ra lệnh cho sĩ quan phụ trách chuẩn bị kích hoạt ngư lôi hạt nhân. Về quy quyền tác chiến, theo sách của Mozgovoi, các chỉ huy tàu ngầm chỉ được phép dùng ngư lôi hạt nhân khi có mệnh lệnh trực tiếp từ Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô. Tuy nhiên, Thuyền trưởng Ryurik Ketov khẳng định ông có lệnh viết cho phép khai hỏa ngư lôi hạt nhân theo toàn quyền chỉ huy của mình mà không cần suy tính lại, và các sĩ quan trên tàu B-59 trên thực tế đã được trao quyền sử dụng vũ khí hạt nhân mà không cần chờ lệnh chấp thuận từ Moscow. [8][7][3]

Thông thường, cánh cửa dẫn tới đòn tấn công nguyên tử dưới đáy biển chỉ phụ thuộc vào hai người. Trên hầu hết các tàu ngầm mang ngư lôi hạt nhân của Liên Xô, việc kích hoạt vũ khí chỉ cần sự đồng thuận của thuyền trưởng và chính ủy. Cơ cấu khai hỏa chỉ có thể mở ra khi hai sĩ quan này cùng nhất trí ghép hai nửa chiếc chìa khóa mà mỗi người nắm giữ lại với nhau. Thế nhưng bên trong tàu B-59, tình thế hoàn toàn khác biệt. Quyết định phóng cần thêm chữ ký thứ ba vì Vasili Arkhipov có mặt với tư cách là tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm. Quy định đặc biệt trên con tàu đòi hỏi sự đồng thuận của cả ba người chứ không phải hai, đồng nghĩa với việc Arkhipov nắm giữ quyền phủ quyết việc khai hỏa tên lửa hạt nhân. [1][7]

Một cuộc tranh cãi nảy lửa nổ ra giữa ba sĩ quan cấp cao nhất trong khoang tàu ngột ngạt. Giữa bầu không khí căng thẳng tột độ, chỉ có duy nhất Arkhipov kiên quyết phản đối việc phóng ngư lôi. Bằng sự tỉnh táo phi thường, ông giải thích cho Savitsky hiểu rằng chiến thuật ném bom của quân đội Mỹ chỉ nhằm ép tàu ngầm nổi lên mặt nước chứ không phải để tiêu diệt con tàu. [1][9]

Dù trên danh nghĩa chỉ là chỉ huy phó của tàu B-59, uy tín từ lần đương đầu với sự cố K-19 cùng tư cách tham mưu trưởng lữ đoàn đã giúp Arkhipov có đủ sức nặng để thuyết phục được Savitsky. Thuyền trưởng tàu B-59 cuối cùng đã chấp nhận lùi bước, đồng ý cho tàu nổi lên mặt nước chờ lệnh thay vì kích hoạt đòn đánh hủy diệt. Nhưng quyết định trồi lên giữa vòng vây của hạm đội đối phương lại đẩy con tàu vào một tình thế hiểm nghèo khác ngay khi nắp tháp chỉ huy vừa bật mở. [1]

Ánh đèn pha trên cầu tàu và cơn giận ở Moscow

Tàu ngầm B-59 nổi lên giữa sự vây bọc của 11 tàu khu trục Mỹ, chỉ khoảng 15 phút sau khi Đại sứ Liên Xô Dobrynin rời văn phòng của Robert Kennedy mang theo thông điệp khẩn cấp gửi tới Khrushchev về việc rút tên lửa. Vừa trồi lên mặt biển, hiểm nguy lập tức ập xuống từ không trung. Arkhipov nhớ lại chiếc máy bay Mỹ bay sát tháp chỉ huy đã bật đèn pha cực mạnh làm lóa mắt mọi người trên cầu tàu từ 1 đến 3 giây trước khi nổ súng bắn dọc thân tàu. [1][6][9]

Loạt đạn rát mặt đẩy Valentin Savitsky vào cơn hoảng sợ tột độ. Theo lời kể của Ketov, Savitsky đã hoảng loạn hô lệnh lặn khẩn cấp và chuẩn bị ngư lôi hạt nhân số 1, nhưng ông không thể xuống thang hẹp do bị vướng sĩ quan hiệu thính. Arkhipov khi đó vẫn ở trên đài chỉ huy. Nhận ra phía Mỹ chỉ đang phát tín hiệu chứ không tấn công, ông đã gọi thuyền trưởng quay lên và trấn an ông ta. Arkhipov nêu giả định rằng nếu thuyền trưởng theo phản xạ ra lệnh lặn khẩn cấp thì sau khi chìm xuống sẽ không ai còn phân biệt được máy bay đang bắn cảnh cáo hay đang ném bom thật. [2]

Nhờ sự can thiệp của Arkhipov, lệnh chuẩn bị ngư lôi của Savitsky chưa từng được truyền tới sĩ quan phụ trách quả đạn. Tàu B-59 đã phát tín hiệu yêu cầu quân Mỹ dừng các hành vi khiêu khích, trong khi lực lượng Mỹ cũng không lên tàu hay lục soát con tàu. Tình hình được giải tỏa, và sang ngày hôm sau, B-59 nạp đầy bình ắc quy rồi lặn xuống mà không báo trước để cắt đuôi các tàu truy đuổi. [2][9]

Trở về sau hải trình nghẹt thở, những gì chờ đón họ ở quê nhà lại là sự đối đãi cay đắng. Khi trở về Liên Xô, nhiều thủy thủ bị cấp trên khiển trách gay gắt, thậm chí một đô đốc mắng rằng thà họ chìm theo tàu còn hơn trở về như vậy. Tại Moscow, khi nghe tin các tàu ngầm Liên Xô bị quân Mỹ phát hiện tung tích, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soái Andrei Grechko đã giận dữ đập vỡ kính trên bàn làm việc. Theo nhà sử học Alexander Mozgovoi, Nguyên soái Grechko khi biết hạm đội điều tàu ngầm diesel chứ không phải tàu ngầm hạt nhân tới Cuba đã đập vỡ kính thành từng mảnh nhỏ rồi bỏ ra khỏi phòng. [1][9]

Thay vì được chào đón vì đã kéo con tàu lùi lại trước bờ vực chiến tranh, thủy thủ đoàn phải đón nhận sự lạnh nhạt từ cấp trên. Mọi chi tiết về cuộc đối đầu nghẹt thở giữa biển sâu nhanh chóng bị niêm phong, mở ra một bức màn im lặng kéo dài suốt nhiều thập kỷ.

Bức màn im lặng và những góc nhìn sau bốn thập kỷ

Bản báo cáo chuẩn bị cho phiên họp đầu năm 1963 nhấn mạnh lực lượng chống ngầm của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo và mạnh gấp hàng trăm lần về năng lực tác chiến so với các tàu ngầm Liên Xô. Tuy nhiên, tập tài liệu mật này hoàn toàn không đả động gì đến các sự cố nghiêm trọng trên tàu B-59, cho thấy các chỉ huy ban đầu có chủ đích giữ kín tuyệt đối câu chuyện. Suốt gần 40 năm sau đó, chính các thuyền trưởng tàu ngầm Liên Xô cũng tìm cách ém nhẹm sự cố suýt dùng vũ khí hạt nhân dưới lòng biển Sargasso. [2]

Arkhipov cũng chọn cách im lặng trước biến cố ngoài khơi Cuba. Bà Olga cho biết ông hiếm khi kể về những sự kiện này vì cảm thấy nỗi gian khổ cam go của họ đã không được cấp trên thấu hiểu và ghi nhận. Bỏ lại sau lưng hải trình cay đắng, ông tiếp tục phục vụ trong hải quân, được phong quân hàm Chuẩn Đô đốc vào năm 1975 và giữ chức Giám đốc Học viện Hải quân Kirov. Đến năm 1981, ông được thăng quân hàm Phó Đô đốc rồi chính thức về hưu vào năm 1988. [1]

Kỷ luật quân đội theo ông cho đến những năm cuối đời. Trong bản báo cáo công khai duy nhất vào năm 1997, Arkhipov hoàn toàn không nhắc tới vai trò của chính mình trong việc giải quyết thời khắc nghẹt thở trên tàu B-59. Khi cuốn sách «Điệu Samba Cuba của bộ tứ Foxtrot» của nhà báo Alexander Mozgovoi tiết lộ lời kể của các cựu thủy thủ, ông rất bất bình và coi việc phanh phui chuyện suýt phóng ngư lôi hạt nhân là một âm mưu nhằm bôi nhọ các tướng lĩnh và phá hoại Quân đội Liên Xô. Sau khi nghỉ hưu tại Zheleznodorozhny thuộc tỉnh Moscow, ông qua đời vì bệnh ung thư thận vào ngày 19 tháng 8 năm 1998. Căn bệnh quái ác này có thể xuất phát từ việc ông từng bị phơi nhiễm phóng xạ trong sự cố tàu K-19 năm 1961. [2][8][1]

Sau khi ông mất, những góc nhìn trái chiều về sự việc tiếp tục bùng nổ. Lời kể của Orlov đưa ra bức tranh gây tranh cãi về việc Thuyền trưởng Valentin Savitsky từng hạ lệnh lắp ráp chuẩn bị ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân. Nhà báo Mozgovoi cho rằng Savitsky là chỉ huy duy nhất tính đến việc dùng vũ khí trái phép, nhưng rất khó trách ông vì thủy thủ đoàn phải chịu áp lực kinh khủng về cả thể xác lẫn tinh thần. Tại Nga, sự việc vẫn đối mặt với nhiều hoài nghi. Năm 2024, nhà sử học Sergey Radchenko lập luận rằng các bằng chứng về vai trò của Arkhipov chủ yếu dựa vào lời kể truyền miệng do nhà nghiên cứu Svetlana Savranskaya công bố, đồng thời chỉ ra tài liệu do Bộ Quốc phòng Nga giải mật năm 2022 hoàn toàn không đề cập đến sự cố của Arkhipov. [2][8][1]

Người sĩ quan lữ đoàn phó qua đời mà chưa từng một lần nhận mình là người hùng cứu vãn thế giới. Nhưng bên ngoài biên giới nước Nga, các nhà nghiên cứu quốc tế bắt đầu lật lại từng trang hồ sơ để đưa tên tuổi của ông ra trước ánh sáng của lịch sử.

Sự thật được giải mật và di sản cứu vớt nhân loại

Suốt nửa thế kỷ, quân đội Mỹ hoàn toàn không hay biết các tàu ngầm Liên Xô mang theo vũ khí hạt nhân cho tới khi các hồ sơ lưu trữ thời Xô Viết được mở ra. Năm 2002, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thừa nhận nhân loại khi ấy đã tiến rất gần đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, gần hơn rất nhiều so với những gì Washington từng hình dung. Bản thân ông vào ngày thứ Bảy 27 tháng 10 năm 1962 từng đinh ninh mình có thể sẽ không còn sống để nhìn thấy bình minh. Dưới góc nhìn học thuật, Tiến sĩ Jonathan Colman đánh giá rằng chính yếu tố may mắn cũng như cách quản lý khủng hoảng đã giữ cho cuộc đối đầu không bùng nổ thành hậu quả thảm khốc nhất, trong khi Thomas S. Blanton tuyên bố dứt khoát rằng Arkhipov chính là người đàn ông đã cứu cả thế giới. [9][1][6][3]

Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế cuối cùng cũng tìm về với gia đình người sĩ quan quá cố. Tháng 10 năm 2017, tại Viện Kỹ thuật và Công nghệ ở London, giải thưởng Future of Life Award đầu tiên trị giá 50.000 USD đã được trao tận tay cho con gái Elena và cháu trai Sergei của Arkhipov. Đây là giải thưởng được lập ra nhằm tôn vinh hành động quả cảm bảo vệ tương lai nhân loại bất chấp hiểm nguy cho bản thân và không hề được đền đáp vào thời điểm xảy ra sự việc. Có mặt tại sự kiện, bà Beatrice Fihn nhận định câu chuyện của Arkhipov là lời nhắc nhở rõ nét về việc thế giới từng đứng chênh vênh bên bờ thảm họa hạt nhân trong quá khứ. Đứng trước các đại biểu quốc tế, bà Elena Andriukova chia sẻ cha mình hành động như một người thấu hiểu sâu sắc những tai họa do phóng xạ gây ra, và trong suốt những năm tháng thầm lặng sau đó, ông chưa từng bao giờ coi hành động của mình là chủ nghĩa anh hùng. [1][3]

Thomas S. Blanton tuyên bố dứt khoát rằng Arkhipov chính là người đàn ông đã cứu cả thế giới.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày con tàu B-59 chao đảo dưới những đợt bom chìm giữa lòng biển Sargasso, thế giới mới thấu hiểu trọn vẹn giá trị của một lá phiếu phủ quyết trong khoang tàu ngột ngạt. Arkhipov chấp nhận lùi vào bóng tối của sự lãng quên suốt nhiều thập kỷ, để nhân loại trên mặt đất tiếp tục nhìn thấy ánh bình minh.

Nguồn

  1. Vasily Arkhipov (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. The Underwater Cuban Missile Crisis at 60 | National Security Archive (nsarchive.gwu.edu, nguồn gốc)
  3. Soviet submarine officer who averted nuclear war honoured with prize | Science prizes | The Guardian (web.archive.org, bài viết)
  4. The Submarines of October: Chronology (web.archive.org, bài viết)
  5. Thank you Vasili Arkhipov, the man who stopped nuclear war | Edward Wilson | The Guardian (web.archive.org, bài viết)
  6. Washingtonpost.com: Live Online (web.archive.org, bài viết)
  7. The Man Who Saved the World | About the Episode | Secrets of the Dead | PBS (www.pbs.org, bài viết)
  8. Cuban Missile Crisis, Russian Submarines - Johnson's Russia List 6-22-02 (web.archive.org, bài viết)
  9. Vasili Arkhipov: The Soviet Officer Who Averted Nuclear War | History Hit (www.historyhit.com, bài viết)

Ảnh bìa: Image courtesy by Olga Arkhipova · CC BY-SA 4.0 · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.