Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Chuyến tàu MS St. Louis năm 1939 bị ba nước khước từ và kế hoạch liều lĩnh của thuyền trưởng người Đức

· Lịch sử

MS St. Louis · 1939: Chuyến tàu MS St. Louis năm 1939 bị khước từ
Bìa đồ hoạ và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.

Đứng trước nguy cơ phải đưa con tàu trở về điểm xuất phát, Thuyền trưởng Gustav Schröder từng tính đến một kế hoạch liều lĩnh: chủ động đâm phá tàu vào bờ biển nước Anh nhằm buộc chính phủ nước này phải tiếp nhận hành khách như người tị nạn. Nhân chứng trên tàu khi ấy, anh Fred Buff, kể lại rằng Thuyền trưởng Schröder từng bàn kế hoạch cho tàu mắc cạn vào một bãi cát ngầm ngoài khơi bờ biển Anh để hành khách lên xuồng cứu sinh vào bờ tị nạn. [1][7]

Dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng Gustav Schröder, tàu St. Louis rời Hamburg tới Havana vào ngày 13 tháng 5 năm 1939, chở theo 937 hành khách phần lớn là người Do Thái trốn chạy phát xít. Khi hy vọng cập bến tiêu tan và áp lực đè nặng, Thuyền trưởng Schröder vẫn kiên quyết từ chối đưa tàu quay lại Đức cho đến khi toàn bộ hành khách được một quốc gia khác cho phép nhập cảnh. [1]

Làm sao một người chỉ huy mang quốc tịch Đức, đứng trên đài chỉ huy của con tàu thuộc Đệ Tam Đế chế, lại dám chống lại mệnh lệnh từ quê nhà và tính đến nước cờ tự hủy tàu để cứu lấy các hành khách bị xua đuổi? [1]

Ốc đảo tự do kỳ lạ dưới lá cờ mang dấu chữ thập ngoặc

Trước giờ nhổ neo, Thuyền trưởng Gustav Schröder tập hợp toàn bộ 231 thành viên thủy thủ đoàn để đưa ra một cảnh báo nghiêm khắc: các hành khách Do Thái phải được đối xử chu đáo như bất kỳ hành khách nào khác. Rời bến Hamburg, hành trang của những con người tị nạn gần như trống rỗng bởi sắc lệnh của Đức Quốc xã chỉ cho phép mỗi người mang tối đa 10 Reichsmark cùng một khoản tiêu vặt trên biển không thể quy đổi lại. [3][5]

Thuyền trưởng Schröder ghi vào nhật ký niềm tin rằng thời tiết đẹp, không khí biển, đồ ăn ngon và sự phục vụ chu đáo sẽ sớm làm tan biến những ký ức đau buồn trên bờ như một giấc mơ. Ông nỗ lực hết sức để hành khách được đối xử tử tế, đưa vào thực đơn cả những món ăn vốn thuộc diện phân phối khẩu phần tại Đức, đồng thời tổ chức trông trẻ trong giờ phụ huynh dùng bữa tối. Ngay trên con tàu mang cờ Đức thời phát xít, những người vừa trốn chạy khỏi sự bức hại vô cùng ngạc nhiên khi thấy bàn ăn của mình được phục vụ theo đúng luật ăn kiêng Kosher của Do Thái. [3][1][7]

Để hành khách không còn phải lén lút cầu nguyện, Thuyền trưởng Schröder đã cho cải tạo một phòng khánh tiết trên tàu thành giáo đường tạm thời. Các buổi khiêu vũ, hòa nhạc và nghi lễ tôn giáo tối thứ Sáu được tổ chức ngay trong phòng ăn, nơi bức tượng bán thân của Hitler đã được phủ kín bằng khăn trải bàn. [5][1]

Đi cùng cha mẹ trên chuyến hải trình, cậu bé Lothar Molton nhận thấy các hành khách đều xem chuyến đi như một chuyến du ngoạn nghỉ dưỡng hướng về tự do. Giữa biển cả mênh mông, con tàu tựa như một ốc đảo che chở cho những phận người vừa thoát khỏi nỗi sợ hãi. Nhưng dưới những bữa tiệc và tiếng nhạc êm dịu, những toan tính ngầm đã bắt đầu rình rập ngay trên các boong tàu. [1]

Cuộc chạy đua ngầm và vết rạn trên sóng biển

Chỉ nửa giờ sau khi con tàu rời bến lúc 20:00 ngày 13 tháng 5, giám đốc hàng hải của HAPAG là Claus-Gottfried Holthusen đã gửi một bức điện tín yêu cầu tàu St. Louis phải chạy hết tốc lực. [3]

Đối với nhiều hành khách trên boong, từng giờ vượt biển là một cuộc đào thoát sinh tử. Ông Aaron Pozner bước lên tàu khi vừa được thả khỏi trại tập trung Dachau sau đêm Kristallnacht, mang theo điều kiện bắt buộc phải rời khỏi nước Đức trong vòng 14 ngày. Giữa những bước chân vội vã, hai nhân viên phục vụ phòng trên tàu đã tự nguyện mang hành lý giúp ông bà Moritz và Recha Weiler khi thấy hai người tuổi đã cao. [3]

Nhân viên phục vụ phòng Otto Schiendick nắm giữ chức vụ Ortsgruppenleiter của Đảng Quốc xã trên tàu, đồng thời là chân giao liên cho cơ quan mật vụ Abwehr. Chuyến đi này của Schiendick gắn liền với nhiệm vụ bí mật mang mật danh Chiến dịch Ánh Dương nhằm thu thập các tài liệu mật về quân đội Mỹ từ Robert Hoffman ở Cuba. Trên hải trình, y liên tục quấy rối sự yên bình của hành khách bằng cách dán các bản báo Der Stürmer, lén tráo phim giải trí bằng phim tuyên truyền Quốc xã và cất giọng hát nhạc phát xít. [3]

Sự đối đầu ngầm bộc phát thành xung đột công khai vào ngày 23 tháng 5, thời điểm ông Moritz Weiler qua đời giữa biển khơi. Thuyền trưởng Gustav Schröder cùng bác sĩ tàu đã hỗ trợ tổ chức tang lễ theo đúng nghi thức Do Thái với sự có mặt của một giáo sĩ trên tàu. Dựa vào quy định của Đảng Quốc xã, Otto Schiendick ngang ngược đòi phủ cờ chữ thập ngoặc lên quan tài của ông Weiler, nhưng yêu cầu này đã bị thẳng thừng từ chối. [3]

Chỉ 30 phút sau lễ thủy táng của ông Weiler, một thủy thủ bị trầm cảm đã gieo mình xuống biển tự sát đúng tại vị trí vừa tiễn đưa người quá cố. Con tàu buộc phải quay đầu tìm kiếm và đánh mất thời gian quý báu trong cuộc chạy đua cập bến. [3]

Bẫy sập Havana và trò trục lợi trên mạng người

Lúc 03:00 sáng ngày 27 tháng 5 năm 1939, một viên hoa tiêu bước lên tàu St. Louis khi con tàu vừa tiến vào vùng biển Cuba. Thay vì hướng dẫn cập cầu cảng của hãng HAPAG, người này lại viện cớ rào cản ngôn ngữ để né tránh trả lời lý do vì sao con tàu bị ép phải dừng lại ngoài khơi. Trước đó, đại diện HAPAG tại Havana là Luis Clasing đã đánh điện báo tin Tổng thống Federico Laredo Brú chỉ chấp thuận cho tàu neo ở vũng tàu ngoài biển. Đúng 04:00, con tàu buông neo tại một khu vực xa xôi của cảng Havana, chính thức bị chính quyền sở tại khước từ cho cập vào bến đỗ thông thường. [1][3]

Đầu năm 1939, Cuba ban hành Sắc lệnh 55 quy định người tị nạn phải có thị thực và đóng khoản bảo chứng 500 USD, trong khi khách du lịch được miễn thị thực. Lợi dụng việc sắc lệnh không định nghĩa rõ thế nào là khách du lịch, Giám đốc Di trú Manuel Benitez đã kiếm bộn tiền bằng cách bán các giấy phép nhập cảnh với giá 150 USD cho những người muốn thoát khỏi nước Đức. Nhưng đến ngày 5 tháng 5 năm 1939, Cuba bất ngờ từ bỏ chính sách nhập cư thực dụng khi thông qua Sắc lệnh 937, siết chặt cửa khẩu và hạn chế nhập cảnh toàn bộ người nước ngoài trừ công dân Mỹ, trừ khi có phê duyệt và nộp 500 USD bảo chứng. [1][3]

Để dàn xếp bất đồng và thuyết phục Tổng thống Brú bãi bỏ Sắc lệnh 937, Manuel Benitez đã đòi khoản hối lộ lên tới 250.000 USD nhưng bị Tổng thống khước từ. Sáng thứ Bảy hôm tàu tới, lực lượng cảnh sát và viên chức di trú Cuba bước lên boong làm thủ tục. Thế nhưng, các nhân viên di trú sau đó bất ngờ rời đi mà không đưa ra bất kỳ lời giải thích nào, chỉ để lại đội cảnh sát ở lại phong tỏa nghiêm ngặt mọi cầu thang mạn. [3]

Chính phủ Cuba đòi mỗi người tị nạn phải nộp thêm 500 USD nếu muốn được lên bờ, một yêu cầu bất khả thi bởi họ đã cạn sạch tiền bạc sau khi rời bỏ quê nhà. Sau năm ngày con tàu nằm chết dí tại cảng Havana, chỉ có 28 hành khách được phép rời tàu, trong đó có 22 người Do Thái mang thị thực nhập cảnh hợp lệ của Hoa Kỳ. Giữa bầu không khí ngột ngạt và cùng quẫn bóp nghẹt các boong tàu, hành khách Max Loewe đã cố gắng tự sát và trở thành người cuối cùng được nhận vào Cuba khi cần sơ tán y tế khẩn cấp đến bệnh viện ở Havana. [1][5]

Những cánh cửa dân chủ đồng loạt đóng sập

Ngày 1 tháng 6, Thuyền trưởng Gustav Schröder mặc thường phục vào đất liền và tìm đến tận dinh tổng thống Cuba để xin tiếp kiến, nhưng một nhân viên ngoại giao đã từ chối ông thẳng thừng. Cùng lúc đó, cỗ máy tuyên truyền của Joseph Goebbels vươn vòi tới tận Havana khi cử 14 đặc vụ Quốc xã rải truyền đơn, vu khống những người tị nạn trên tàu là tội phạm đào tẩu đến cướp việc của người dân Cuba. Trên sóng vô tuyến, các đài phát thanh do Quốc xã kiểm soát tại Đức liên tục rêu rao rằng những kẻ tội phạm Do Thái đang chạy trốn khỏi Đức mang theo tiền của trộm cắp được. Nhận thấy nguy cơ chính quyền Cuba dùng vũ lực trục xuất tàu, ông khẩn khoản xin thêm thời gian và chỉ được cấp vỏn vẹn một ngày để tiếp tế lương thực cho hành trình vượt biển mới. [5]

Hồ sơ lưu trữ cho thấy Ngoại trưởng Mỹ Cordell Hull và Bộ trưởng Tài chính Henry Morgenthau từng có những nỗ lực thuyết phục chính quyền Cuba tiếp nhận người tị nạn. Thế nhưng, khi những người chạy trốn hướng ánh mắt tuyệt vọng về đất liền nước Mỹ, cả Ngoại trưởng Cordell Hull lẫn Tổng thống Franklin D. Roosevelt đều quyết định không can thiệp để tiếp nhận họ vào Hoa Kỳ. Washington thẳng thừng từ chối cho nhập cảnh với lý do việc tiếp nhận hành khách tàu St. Louis sẽ vi phạm hệ thống hạn ngạch và chen ngang danh sách những người đang chờ đợi. [1][5]

Sự cự tuyệt của người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ còn gắn chặt với toan tính chính trường: Ngoại trưởng Cordell Hull phản đối tiếp nhận người Do Thái dường như vì các nghị sĩ Dân chủ miền Nam chống nhập cư đe dọa ngừng ủng hộ FDR trong cuộc bầu cử năm 1940. Làn sóng bài xích ấy đã bóp nghẹt mọi lối thoát nhân đạo ngay tại Washington. Dự luật Wagner-Rogers nhằm cho phép 20.000 trẻ em Do Thái từ Đức nhập cư vào Mỹ đã bị khai tử ngay tại ủy ban quốc hội trong khi tàu St. Louis đang chờ đợi số phận. Sự lạnh lùng của giới cầm quyền lộ rõ qua lời của Laura Delano Houghteling, phu nhân ủy viên di trú kiêm em họ của Tổng thống Roosevelt, khi bà bình luận về dự luật cứu trợ rằng 20.000 đứa trẻ xấu xí sẽ nhanh chóng lớn thành 20.000 người lớn xấu xí. [7]

Nhìn dải bờ biển Florida thấp thoáng qua cửa sổ mạn tàu, Thuyền trưởng Schröder từng tính đến việc cho tàu St. Louis mắc cạn vào bờ biển này để buộc chính quyền sở tại phải giải cứu hành khách. Nhưng các tàu Tuần duyên Hoa Kỳ làm theo chỉ thị của Cordell Hull đã bám sát và ngăn chặn mọi khả năng áp sát bờ. Cánh cửa dung thân cuối cùng ở Bắc Mỹ cũng đóng sập vào ngày 9 tháng 6, khi Giám đốc Cục Di trú Canada Frederick Blair với quan điểm thù địch với việc nhập cư của người Do Thái đã thuyết phục Thủ tướng nước này không can thiệp giúp đỡ tàu. [1]

Bất tuân lệnh Berlin và toan tính đâm tàu giải cứu

Như một giải pháp cuối cùng, Thuyền trưởng Gustav Schröder đến Tòa Lãnh sự Đức nhờ can thiệp ngoại giao nhưng bị các quan chức tại đây ra lệnh phải đưa những người Do Thái quay về Đức. Ngay sau đó, chủ hãng tàu HAPAG can thiệp và yêu cầu ông đưa tàu về Đức do vụ bê bối thu hút dư luận quốc tế làm ảnh hưởng đến lượng đặt vé du lịch và gây tổn thất tài chính. Cùng thời điểm, Bộ Tuyên truyền Đức Quốc xã đã lợi dụng việc Hoa Kỳ xua đuổi tàu St. Louis để biện minh rằng thế giới không có tư cách phán xét cách Đức đối xử với người Do Thái. [5]

Khi biết tàu phải quay về nước Đức bài Do Thái, một số hành khách trên tàu St. Louis đã thành lập các đội tuần tra ban đêm để ngăn chặn người khác tự vẫn. Có mặt trên chuyến đi, hành khách Fred Buff đã viết nhật ký hải hành năm 17 tuổi, tư liệu sau này được xuất bản thành cuốn hồi ký mang tên *Riding the Storm Waves*. Trong nhật ký, anh xót xa tự hỏi liệu số phận của con tàu có phải trở thành một phiên bản khác của con tàu ma Người Hà Lan bay trong vở opera của Wagner hay không. [7]

Trước nguy cơ bị đẩy ngược về nơi xuất phát, ủy ban hành khách gửi một bức điện khẩn tới Thủ tướng Anh tha thiết cầu xin được cứu sống. Bức điện nêu rõ trên tàu có 907 hành khách bị Cuba từ chối tiếp nhận. [5]

Tại London, Đại sứ Mỹ Joseph P. Kennedy đã tích cực giúp đỡ hành khách tàu St. Louis tìm nơi tị nạn tại Anh dù đôi lúc ông có những phát ngôn mang tính bài Do Thái. Những nỗ lực hỗ trợ người tị nạn Do Thái của Đại sứ Kennedy khiến Liên đoàn Quốc gia Ả Rập mỉa mai gọi ông là một con rối của phong trào phục quốc Do Thái. [7]

Bến đỗ chia cắt và cái giá của sự xua đuổi

Ngày 17 tháng 6 năm 1939, sau những nỗ lực đàm phán của Thuyền trưởng Gustav Schröder, tàu St. Louis quay trở lại châu Âu và cập cảng Antwerp thuộc Bỉ cùng 907 hành khách. Một thỏa thuận vào phút chót đã phân tán số phận của họ về bốn quốc gia: Thủ tướng Anh Neville Chamberlain đồng ý tiếp nhận 288 người, chiếm 32% hành khách. Trên lục địa, Pháp tiếp nhận 224 người, Bỉ tiếp nhận 214 người và Hà Lan nhận 181 người. [1]

Theo kết quả bốc thăm phân chia người tị nạn, gia đình của Arno G. Motulsky được chuyển tới Bỉ. Năm ấy mới 16 tuổi, anh cùng mẹ và các em vốn đã có tên trong danh sách chờ thị thực Mỹ và chỉ mua thẻ du lịch sang Cuba để tìm cách đoàn tụ với cha. Cùng được tiếp nhận vào Bỉ năm 1939 còn có anh Fred Buff, người may mắn sang được Mỹ vào năm 1940 và đến năm 1945 đã tham gia trận đánh đổ bộ đường biển lớn nhất Thái Bình Dương tại Okinawa trong hàng ngũ Hải quân Mỹ. Nhưng với phần lớn những người ở lại lục địa châu Âu, bến đỗ bình yên chỉ kéo dài chưa đầy một năm. [4][7][1]

Ngày 10 tháng 5 năm 1940, quân Đức tràn qua xâm lược Tây Âu. Dù có 87 người trong số 620 hành khách ở lục địa kịp di cư ra nước ngoài trước ngày định mệnh đó, vòng vây chiến tranh đã chính thức sập xuống với những người còn lại. Ngay khi chiến sự nổ ra, cảnh sát Bỉ bắt giữ Arno Motulsky vì anh cao lớn hơn các thiếu nhi khác và đã quá độ tuổi trẻ em 7 tháng. Khoảng 5.000 người đàn ông mang quốc tịch Đức bị lính gác Bỉ dùng lưỡi lê xua đuổi chạy thục mạng suốt 15 phút qua các đại lộ ở Brussels trong tiếng thóa mạ dữ dội của đám đông trên phố. [1][4]

Các tù nhân bị nhốt suốt 52 giờ trong toa gia súc không một giọt nước hay mẩu bánh mì, bên ngoài toa bị vẽ chữ lính dù và nội gián khiến dân làng ném đá cùng trứng thối vào trong. Binh lính gác tàu lừa lấy toàn bộ cốc chén của người tị nạn với lời hứa đi lấy nước giúp, rồi nhẫn tâm đập vỡ vụn tất cả xuống đường ray. Tại thị trấn biên giới Tournai, một người đàn ông ở toa kế bên toa của anh Motulsky tìm cách trốn chạy đã bị lính gác bắn chết gục ngay khi đang chạy xuống sườn đồi. Motulsky sau đó bị giam giữ tại các trại tập trung St. Cyprien và Gurs ở Pháp, trước khi rời Pháp sang Lisbon và lên tàu đến Mỹ vào tháng 6 năm 1941 ngay trước sinh nhật 18 tuổi. [4]

Các nghiên cứu lần theo từng hành khách xác định có 255 người trong số những người quay về lục địa châu Âu, chiếm 41,1%, đã bị sát hại trong thảm họa Holocaust. Phần lớn họ chết tại các trại hủy diệt Auschwitz và Sobibór, số còn lại qua đời trong các trại giam giữ, khi ẩn trốn hoặc khi tìm cách lẩn tránh Đức Quốc xã. Sự khước từ lạnh lùng của thế giới năm xưa sau này được Daniel Libeskind tạc thành đài tưởng niệm Vòng xoay Lương tâm với bốn bánh răng ăn khớp nhau mang các chữ bài Do Thái, bài ngoại, phân biệt chủng tộc và hận thù. Phải đến ngày 7 tháng 11 năm 2018, Thủ tướng Justin Trudeau mới đưa ra lời xin lỗi chính thức tại Hạ viện Canada về trách nhiệm của chính phủ đối với số phận cay đắng của những hành khách trên chuyến tàu bị xua đuổi. [1]

Có 41,1% số người quay về lục địa châu Âu bị sát hại trong thảm họa Holocaust.

Lời minh oan muộn màng cho người thuyền trưởng giữa giông bão

Sau khi trả khách tại châu Âu, tàu St. Louis tiếp tục hành trình sang Bermuda rồi quay về giữa lúc Thế chiến II bùng nổ. Trên đường trở về, Thuyền trưởng Gustav Schröder đã né tránh vòng phong tỏa của Hải quân Hoàng gia Anh để đưa con tàu cập cảng trung lập Murmansk. Chỉ với một thủy thủ đoàn rút gọn, ông kiên trì luồn lách qua các đội tuần tra của phe Đồng minh để đưa tàu về tới Hamburg an toàn vào ngày 1 tháng 1 năm 1940. Nhưng sau chuyến hải trình hiểm nghèo ấy, ông bị điều chuyển sang làm công việc văn phòng và không bao giờ còn được ra biển nữa. Bản thân con tàu St. Louis cũng chịu chung số phận tàn khốc của chiến tranh khi bị hư hại nặng do bom của quân Đồng minh tại Kiel ngày 30 tháng 8 năm 1944, được sửa chữa làm tàu khách sạn năm 1946 rồi bị bán tháo và rã sắt vụn tại Bremerhaven vào năm 1952. [2][1]

Sau chiến tranh, Thuyền trưởng Schröder được miễn trừ các quy trình trừng phạt phi Quốc xã hóa nhờ chính lời làm chứng của những hành khách Do Thái từng được ông cứu giúp. Năm 1957, Cộng hòa Liên bang Đức trao tặng ông Huân chương Công trạng vì những cống hiến cứu trợ người tị nạn. Đến tháng 3 năm 1993, khu tưởng niệm Yad Vashem truy tặng Gustav Schröder danh hiệu Người công chính giữa các dân tộc. Năm 2000, thành phố Hamburg quê hương đã đặt tên một con đường theo tên ông và dựng bia tưởng niệm tại khu vực cầu cảng. Lời minh oan cho chuyến hải trình năm xưa cũng được cất lên từ bên kia bờ đại dương khi Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết 111 công nhận ngày 6 tháng 6 năm 2009 là dịp kỷ niệm 70 năm ngày tàu St. Louis bị buộc quay lại châu Âu. Vào tháng 9 năm 2012, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Bill Burns đã thay mặt Tổng thống và Ngoại trưởng gửi lời chào đón muộn màng tới 14 người sống sót, trong đó có bà Eva Wiener, người mới tròn 2 tuổi khi con tàu bị từ chối nhập cảnh năm 1939 – một sự khước từ mà Đặc phái viên Hannah Rosenthal nhận định đã che giấu thông tin và gửi đi tín hiệu cho thế giới rằng việc tiêu diệt người Do Thái có thể chấp nhận được. [2][6]

Đầu tháng 6 năm 1939, giữa những ngày lênh đênh ngoài khơi Đại Tây Dương, vị thuyền trưởng người Đức từng bí mật vạch kế hoạch cho tàu đâm vào bờ biển nước Anh để cứu lấy những sinh mạng vô tội trước sự xua đuổi của các cường quốc. Tấm bia tưởng niệm nơi cầu cảng Hamburg hôm nay đứng đó như một minh chứng rằng, ngay giữa giông bão tàn bạo nhất của thời đại, lòng can đảm và phẩm giá con người vẫn tìm được bến đỗ bình yên.

Nguồn

  1. MS St. Louis (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. Gustav Schröder (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  3. The Tragedy of S.S. St. Louis | Jewish Virtual Library (www.jewishvirtuallibrary.org, nguồn gốc)
  4. A German‐Jewish refugee in Vichy France 1939–1941. Arno Motulsky's memoir of life in the internment camps at St. Cyprien and Gurs - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
  5. Holocaust Memorial Day Trust | The SS St Louis (www.hmd.org.uk, bài viết)
  6. State Department apologizes to Jewish refugees | Scripps Howard Foundation Wire (web.archive.org, bài viết)
  7. The Jewish Standard (web.archive.org, bài viết)

Bìa đồ hoạ và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.