Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Cơn dịch cười năm 1962 ở Tanganyika: Khi tiếng cười biến thành triệu chứng khiến trường học phải đóng cửa

· Lịch sử

Cơn dịch cười · Tanganyika · 1962: Cơn dịch cười năm 1962 tại Tanganyika khiến 14 trường đóng cửa và ảnh hưởng khoảng 1.000 người.
Bìa đồ hoạ và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.

Ngày 30 tháng 1 năm 1962, tại một trường nữ sinh nội trú do tổ chức truyền giáo điều hành ở Kashasha, ba nữ sinh bất ngờ bật cười rồi không thể nào dừng lại. Ngôi trường nằm ở bờ tây hồ Victoria thuộc Tanganyika, sát biên giới Uganda. Những âm thanh khúc khích ban đầu ngỡ như trò đùa nghịch ngây thơ của học trò, nhưng chúng nhanh chóng kéo dài thành những tràng cười bất thường, không có dấu hiệu dứt điểm. [1]

Từ ba nữ sinh khởi phát ấy, cơn dịch nhanh chóng lan rộng khắp các lớp học và phòng ở. Trong tổng số 159 học sinh ở độ tuổi từ 12 đến 18 của trường, có tới 95 em lần lượt bị cuốn vào vòng xoáy kỳ lạ này. Tiếng cười không bắt nguồn từ sự vui vẻ mà trở thành một trạng thái thể chất dai dẳng, vượt ngoài mọi nỗ lực kiểm soát của các giáo viên. Toàn bộ nề nếp sinh hoạt và việc giảng dạy bị đảo lộn hoàn toàn khi hơn một nửa số học sinh liên tục phát tác triệu chứng. Trước tình trạng bất ổn kéo dài, ngày 18 tháng 3 năm 1962, ngôi trường buộc phải đóng cửa. [1]

Một hiện tượng thoạt nhìn giống như phản ứng đùa cợt vô hại của tuổi thiếu niên đã làm tê liệt cả một cơ sở giáo dục suốt gần hai tháng bên bờ hồ Victoria. Điều gì đã thực sự xảy ra đằng sau những bức tường trường học ở Kashasha, biến tiếng cười thành một triệu chứng bệnh lý có sức lây lan dữ dội đến mức ấy? [1]

Cơn ngất xỉu sau những tràng cười không dứt

Danh sách các triệu chứng được liệt kê cho thấy một bức tranh y tế nặng nề: không chỉ có cười, các nạn nhân còn trải qua những cơn khóc lóc, bồn chồn, đau đớn, ngất xỉu, gặp phải các vấn đề về hô hấp và thậm chí là phát ban trên da. Những biểu hiện thể chất nối tiếp nhau xuất hiện, biến phản xạ cười vốn dĩ vô hại thành một trải nghiệm đau đớn đối với cơ thể người bệnh. [1]

Một đợt triệu chứng có thể kéo dài từ vài giờ cho đến tận 16 ngày, với mức trung bình vào khoảng bảy ngày cho mỗi trường hợp mắc phải. Sự lây lan âm ỉ từ nữ sinh này sang nữ sinh khác đã khiến đợt bùng phát đầu tiên tại trường Kashasha kéo dài ròng rã khoảng 48 ngày. [1]

Toàn bộ giáo viên đều không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng kỳ lạ này, không một ai xuất hiện các triệu chứng như học trò của mình. Dù vậy, họ hoàn toàn bất lực trong việc duy trì việc dạy học và báo cáo rằng học sinh không thể nào tập trung vào bài học giữa một không gian lớp học liên tục bị đảo lộn. [1]

Đến ngày 21 tháng 5, trường mở cửa trở lại để đón học sinh quay lại lớp. Thế nhưng, đợt bùng phát thứ hai nhanh chóng bùng lên và gây ảnh hưởng thêm 57 học sinh khác. [1]

Đến cuối tháng 6, trường nữ sinh nội trú buộc phải đóng cửa lần thứ hai. Không riêng cơ sở này, những trường khác và làng Kanyangereka cũng bị ảnh hưởng ở mức độ nào đó. Theo quan sát của Benjamin H. Kagwa, sự xuất hiện và lan truyền những triệu chứng tương tự bám theo ranh giới bộ tộc. Kagwa nhấn mạnh rằng các xáo trộn cảm xúc gắn với cuồng loạn không phải hiện tượng riêng của người châu Phi. [1]

Làn sóng vượt cổng trường lan ra các buôn làng

Trong số những người rời trường đợt ấy, một số nữ sinh sống tại Nshamba, một ngôi làng thuộc huyện Muleba, nằm cách Bukoba 55 dặm về phía tây. [1]

Trong suốt hai tháng 4 và tháng 5 năm 1962, có đến 217 dân làng tại Nshamba đã trải qua các cơn cười, với phần lớn nạn nhân là những người trẻ tuổi. Đợt bùng phát tại khu vực này kéo dài liên tục trong khoảng 34 ngày. [1]

Trường Kashasha bị khởi kiện vì bị cho là đã để học sinh cùng cha mẹ các em truyền hiện tượng lạ lùng này ra khu vực xung quanh. Dẫu vậy, việc đưa nhau ra tòa cũng không thể ngăn làn sóng tiếp tục nhảy sang những cơ sở giáo dục khác. Đến tháng 6, dịch bùng phát tại trường trung học nữ sinh Ramashenye, khiến 48 em học sinh tại đây bị ảnh hưởng. [1]

Mọi khu vực ghi nhận ca mắc đều nằm gọn trong bán kính 100 dặm quanh Bukoba. Quy mô tác động khiến hệ thống giáo dục địa phương chao đảo: tổng cộng có tới 14 trường học buộc phải đóng cửa và khoảng 1.000 người bị ảnh hưởng bởi đợt lây lan. Phải mất đến 18 tháng kể từ ngày bùng phát đầu tiên, hiện tượng này mới hoàn toàn chấm dứt. [1]

Cơn dịch cười năm ấy thực chất là một trong ba đợt dịch hành vi liên tiếp từng xảy ra quanh khu vực hồ Victoria. Bài của Robert Provine trên American Scientist ban đầu xuất hiện trong số tháng một–tháng hai năm 1996. Trong bài báo này, Provine mô tả tiếng cười lây từ người này sang người khác rồi lan sang các cộng đồng lân cận. Về sau, Hempelmann trình bày cách giải thích dựa trên căng thẳng tại hội nghị International Society for Humor Studies ở Northeastern Illinois University. [1][7][8]

Lời đồn về câu đùa tai hại và giới hạn 20 giây của cơ thể

Bốn thập kỷ sau ngày bùng phát, nhân dịp kỷ niệm 40 năm sự kiện, Christian F. Hempelmann bắt đầu lật lại hồ sơ nghiên cứu khi đang là một nghiên cứu sinh tiến sĩ ngôn ngữ học tại Đại học Purdue. Ông thuật lại một phiên bản lưu truyền rất rộng rãi trong công chúng: tất cả dường như bắt đầu từ một câu chuyện đùa vu vơ, rồi bùng lên thành cơn lốc khiến ngay cả các bậc cha mẹ hớt hải chạy đến trường đón con cũng bị cuốn vào và bắt đầu cười ngặt nghẽo. [8]

Báo chí và các nhà quan sát thời bấy giờ đưa ra những con số mâu thuẫn đến kỳ lạ. Một bài viết của Provine cho rằng đợt dịch kéo dài sáu tháng. Ngược lại, ông chỉ ra các bản kể khác nhau lại gán cho dịch khoảng thời gian từ sáu tháng đến một năm rưỡi. Mức độ giật gân chưa dừng lại ở đó: đến năm 2007, một bài viết trên tờ The Guardian còn mô tả đợt dịch chỉ thực sự lắng xuống sau hai năm rưỡi, cuốn theo khoảng 1.000 người tại cả Tanganyika cùng nước láng giềng Uganda. [8][7][5]

Ông thẳng thừng bác bỏ chuyện người dân có thể cười liên tục suốt một năm. Đặt hiện tượng dưới góc nhìn sinh học, ông giải thích rằng hành vi cười tạo ra sức ép rất lớn lên hệ hô hấp, nên về mặt thể chất, một người không thể nào cười quá khoảng 20 giây. [8]

Theo Hempelmann, sự kiện kéo dài khoảng một năm nhưng diễn ra thành các đợt tái phát, không liên tục. Hiện tượng cũng lan sang một vài trường khác và một làng khác. Hempelmann ước tính vài nghìn người bị ảnh hưởng nhưng nói không thể biết con số chính xác. Khi được phỏng vấn, Hempelmann dự định đến địa phương để phỏng vấn những người từng có mặt. [8]

Nỗi ngột ngạt phía sau kỳ vọng của một quốc gia mới

Thực tế hồ sơ ghi nhận các nạn nhân còn trải qua cả những cơn khóc dữ dội chứ không chỉ riêng các cơn cười. Ông mô tả hàng loạt biểu hiện thực thể liên quan trực tiếp đến trạng thái lo âu, bao gồm cảm giác đau đớn, những lần ngất xỉu, các vấn đề về đường hô hấp và đôi khi xuất hiện cả những vết phát ban trên da. [8]

Ông cho rằng giữa cộng đồng dân chúng lúc bấy giờ tồn tại một yếu tố căng thẳng chung nằm sâu bên dưới hiện tượng. Thời điểm cơn dịch bùng nổ vào năm 1962 cũng chính là lúc đất nước Tanganyika vừa giành được độc lập. [1][8]

Theo ghi nhận của ông, chính các học sinh đã báo cáo về tình trạng căng thẳng bắt nguồn từ những kỳ vọng ngày càng cao hơn từ phía giáo viên và các bậc cha mẹ. [1]

Bartholomew và Wessely lưu ý rằng những hiện tượng tương tự từng xảy ra ở lục địa châu Phi trong thập niên 1960 vốn xuất hiện phổ biến bên trong các ngôi trường truyền giáo. [1]

Trong lập luận của Bartholomew và Wessely, toàn bộ xã hội Tanganyika thời điểm đó chịu sự chi phối của những bậc trưởng thượng truyền thống vô cùng nghiêm khắc. [1]

Căn bệnh tâm lý lây truyền qua mắt thấy tai nghe

Theo định nghĩa chuyên môn, MPI là sự lan truyền của các triệu chứng trong một quần thể mà không có bất kỳ tác nhân nhiễm trùng nào chịu trách nhiệm lây truyền. Christian F. Hempelmann giải thích rằng hội chứng này hoàn toàn không bắt nguồn từ các yếu tố môi trường như ngộ độc thức ăn hay độc chất. Điểm khác biệt then chốt giữa MPI với các dạng hoang tưởng tập thể thông thường nằm ở chỗ nó tạo ra những triệu chứng thể chất thực sự trên cơ thể người mắc. [2][8]

Dù vậy, những người ngất xỉu hay đau đớn phải chịu đựng các triệu chứng hoàn toàn có thật, vốn thường được khởi phát sau khi họ tiếp nhận những thông tin sai hoặc bị hiểu nhầm. Hiện tượng này có thể xảy đến với những cá nhân hoàn toàn khỏe mạnh bình thường và không hề bắt nguồn từ một bệnh lý tâm thần nền nào có từ trước. [10]

Không cần đến vi khuẩn hay tiếp xúc dịch cơ thể, các triệu chứng có thể tự lây lan rất nhanh thông qua các tín hiệu nghe nhìn, đơn cử như việc một người tận mắt chứng kiến người khác phát bệnh ngay trước mặt mình. [10]

Khi Christian F. Hempelmann tiếp cận đợt bùng phát năm 1962 để giải mã căn bệnh tâm lý này, ông lập tức chạm vào bức tường của những khoảng trống dữ liệu. Ông cho biết hồ sơ về vụ Tanganyika thời điểm đó không được lưu giữ cẩn thận nên việc thu thập các thông tin đáng tin cậy gặp rất nhiều trở ngại. Bản thân việc nghiên cứu căn bệnh tâm lý tập thể vốn luôn là thách thức lớn với giới điều tra y tế, bởi theo Hempelmann, mỗi khi nhà chức trách kịp đặt chân đến hiện trường thì đợt bùng phát đã kết thúc từ trước. [8]

Tiếng kêu trong tu viện và phản kháng của người yếu thế

Wessely mô tả thể cuồng loạn vận động tập thể có bất thường hành vi vận động, có thể xuất hiện ở mọi nhóm tuổi và nảy sinh từ tình trạng căng thẳng có từ trước. Dạng rối loạn này từng rất phổ biến trong các nữ tu viện từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, nơi đời sống các nữ tu được tổ chức rất chặt chẽ và thường đi cùng kỷ luật nghiêm khắc. Benjamin Guy Babington từng kể lại chuyện đọc được trong một tạp chí y khoa Pháp không dẫn nguồn về các nữ tu đồng loạt kêu như mèo. Theo giai thoại Babington kể lại, các nữ tu kêu như mèo hàng giờ cho đến khi bị đánh bằng roi để ngừng lại. [2]

Môi trường kỷ luật khép kín tiếp tục ghi nhận hiện tượng tương tự ở thời hiện đại. Giai đoạn 1973–1993, một nửa số đợt bệnh tâm lý tập thể được báo cáo xảy ra trong trường học, 29% ở nhà máy và 10% tại thị trấn, làng xã. Ngày 14 tháng 4 năm 2013, 93 nữ sinh tại một trường trung học ở Bangladesh xuất hiện triệu chứng sau khi ăn bánh, dẫn đến hoảng loạn và nhập viện. Dù xét nghiệm mẫu bánh không chứng minh được liên hệ với tác nhân độc chất hay nhiễm trùng, triệu chứng vẫn bùng phát mạnh mẽ: 20% học sinh cảm thấy bệnh chỉ vì nhìn thấy những học sinh khác bị bệnh ở trường, và 11% học sinh cảm thấy bệnh khi xem truyền hình đưa tin về sự việc. [10][4]

Trước những đợt bùng phát như vậy, Hempelmann cho rằng bệnh tâm lý tập thể thường xuất hiện ở những người không có nhiều quyền lực. Ông diễn giải hiện tượng này như phương sách cuối cùng để người ở địa vị thấp biểu đạt rằng có điều không ổn. Những tràng cười ngặt nghẽo ở ngôi trường nội trú Kashasha năm 1962 chưa từng mang ý nghĩa của niềm vui. Khi kỷ luật nghiêm ngặt bịt kín mọi tiếng nói, cơ thể của những nữ sinh đã tự chọn lấy phản ứng co giật đau đớn để phát đi tín hiệu bế tắc của chính mình. [1]

Nguồn

  1. Tanganyika laughter epidemic (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. Mass psychogenic illness (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  3. Mass hysteria attack rates in children and adolescents: a meta-analysis - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
  4. Mass Psychogenic Illness: Demography and Symptom Profile of an Episode - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
  5. The outbreak of hysteria that's no fun at all | World news | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
  6. Mass hysteria may explain 'sonic attacks' in Cuba, say top neurologists | Cuba | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
  7. Laughter » American Scientist (web.archive.org, bài viết)
  8. Examining 1962’s ‘laughter epidemic’ – Chicago Tribune (www.chicagotribune.com, bài viết)
  9. Mass Psychogenic Illness -- familydoctor.org (web.archive.org, bài viết)
  10. Mass Psychogenic Illness: Role of the Individual Physician | AFP (www.aafp.org, bài viết)

Bìa đồ hoạ và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.