Năm 1919, bồn mật đường ở Boston vỡ tung tạo cơn sóng 8 mét quét qua cả khu phố

Khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 15 tháng 1 năm 1919, tại khu North End của thành phố Boston, bang Massachusetts, bầu không khí bỗng bị xé toạc bởi một chuỗi âm thanh đanh giòn và dồn dập. Những nhân chứng có mặt tại hiện trường nghe thấy từng tràng rít chát chúa hệt như tiếng súng máy khi các đinh tán kim loại liên tiếp bị xé đứt rồi bắn tung ra khỏi thân bồn chứa. Chỉ trong tích tắc, chiếc bồn khổng lồ vỡ toạc và sụp đổ hoàn toàn xuống mặt đất. [2]
Ngay khi kết cấu bồn sụp đổ, một khối chất lỏng khổng lồ lập tức ập xuống tạo thành bức tường sóng kinh hoàng. Đỉnh sóng mật đường ban đầu dâng cao tới 25 foot, tương đương khoảng 8 mét, trải rộng tới 160 foot và cuộn trào qua các ngả đường với tốc độ 35 dặm một giờ. Vốn đặc hơn nước tới 40%, chính đặc tính vật lý này của mật đường đã tích tụ một lượng thế năng khổng lồ bên trong chiếc bồn, trước khi giải phóng thành một cơn sóng đặc quánh càn quét dữ dội mọi thứ trên đường đi. [2][9]
Điều gì đã thực sự xảy ra bên trong chiếc bồn chứa ấy để giải phóng một lượng thế năng hủy diệt đến vậy, và nguyên nhân cốt lõi nào đã dẫn đến thảm kịch chấn động khu North End? [2][9]
Tiếng đinh tán như súng máy và bức tường mật cao tám mét
Vào những phút cuối cùng trước khi chiếc bồn vỡ tung, nhịp sinh hoạt buổi trưa tại khu phố North End vẫn diễn ra bình thường. Bên trong trạm cứu hỏa Engine 31, một nhóm đàn ông vừa ăn trưa vừa ngồi chơi bài cùng nhau. Ở khoảng đất bên ngoài, cậu bé Antonio di Stasio tám tuổi cùng người chị Maria và Pasquale Iantosca đang cặm cụi nhặt củi gần chân bồn chứa. Trong khi đó, anh Martin Clougherty vẫn đang chìm trong giấc ngủ sau ca làm việc khuya tại quán Pen and Pencil Club. [5]
Thời khắc bồn thép bung vỡ, biển mật đường lập tức ập xuống và càn quét dữ dội qua các dãy phố. Dòng chất lỏng cuồn cuộn phá hủy sáu tòa nhà xung quanh, đồng thời đánh đổ một trụ đỡ của tuyến đường sắt trên cao. Ngay cạnh đó, trạm cứu hỏa Engine 31 bị hất tung khỏi phần móng, khiến toàn bộ tầng hai đổ sập thẳng xuống tầng một. [12][5]
Dòng mật đặc ập vào các căn nhà và cuốn phăng đồ đạc, biến không gian sinh hoạt thành một bẫy chất lỏng ngổn ngang. Choàng tỉnh ngay giữa thảm họa, Martin Clougherty nhanh chóng trèo lên một khung giường đang nổi rồi dùng chính chiếc khung này để cứu người chị em gái Teresa. Nhưng những đứa trẻ ở ngoài trời đã không có được cơ may thoát nạn: Maria chết ngạt trong dòng mật đường, còn Pasquale bị một toa tàu đánh trúng và tử vong. [5]
Hiểm họa chết người không dừng lại dưới mặt đất mà còn treo lơ lửng trên không trung ngay khi trụ đỡ đường sắt bị quật đổ. Trên tuyến đường này, các đoàn tàu hành khách di chuyển rất dày đặc, chạy cách nhau chỉ bảy phút. Trước nguy cơ một đoàn tàu khác có thể tiếp tục lao xuống lòng phố đổ nát, người phụ trách tàu Royal Albert Leeman đã vượt qua đống đổ nát ngổn ngang để kịp thời ra hiệu ngăn thảm kịch tiếp theo xảy ra. [12][11]
Bẫy dính chết người giữa cái lạnh mùa đông
Lực lượng cứu hộ đầu tiên tiếp cận hiện trường gồm 116 học viên từ tàu huấn luyện USS Nantucket dưới quyền của H. J. Copeland. Các học viên lập tức lội vào lớp mật đường đang ngập đến đầu gối, chật vật di chuyển giữa khối chất lỏng nhớt quánh để kéo những người sống sót ra ngoài. Cùng lúc đó, các y tá của Hội Chữ thập đỏ cũng nhanh chóng vào cuộc; một số người trực tiếp lao vào dòng mật đường, trong khi những người khác khẩn trương chăm sóc y tế cho những người bị thương. [2]
Dưới cái lạnh mùa đông, mật đường nguội dần và quánh đặc lại thành một bẫy dính nguy hiểm. Để tránh bị sa chân rồi mắc kẹt giữa lớp bùn ngọt, lính cứu hỏa phải đặt các thang nằm ngang ngay trên mặt mật đường để di chuyển qua hiện trường. Nhiều nỗ lực giành giật sự sống đã diễn ra trong gang tấc nhưng không thành. Theo Puleo, George Layhe đã cố giữ đầu mình trên mặt mật đường suốt khoảng bốn giờ đồng hồ trong một khoảng trống chỉ cao 18 inch trước khi chết ngạt. [9][11]
Sức dính chết người của lớp mật cũng khiến những con vật kéo xe trong khu vực chịu chung số phận. Theo Puleo, cảnh sát Boston đã phải bắn chết 10 hoặc 11 con ngựa ngay trong đêm vì không thể kéo chúng ra khỏi bãi mật đường. Để xử lý lớp chất lỏng đông cứng bám chặt khắp nơi, lính cứu hỏa sau đó phải dùng đến chổi, cưa và máy bơm nước mặn nhằm loại bỏ toàn bộ phần mật đường còn lại. [11][5]
Trận lụt kinh hoàng cuối cùng đã cướp đi sinh mạng của 21 người và khiến khoảng 150 người bị thương. Khoảng một nửa nạn nhân tử vong ngay trong ngày xảy ra thảm họa, số còn lại qua đời trong những tuần sau đó do thương tích và nhiễm trùng. [2][4]
Lớp sơn nâu ngụy trang và những cảnh báo bị phớt lờ
Nguồn gốc của thảm họa bắt đầu từ nhu cầu vũ khí quân sự ngày càng tăng trong thời chiến, khi mật đường có thể lên men thành ethanol – một thành phần quan trọng trong sản xuất đạn dược. Năm 1915, Purity Distilling cho xây dựng một bồn chứa khổng lồ cao 15 mét (50 foot) và có đường kính 27 mét (90 foot). Công trình đồ sộ ấy mọc lên sừng sững ngay tại North End, một khu lao động với hơn 90% cư dân khi ấy là người Ý. [2][9][6]
Arthur Jell được giao phụ trách dự án dù ông hoàn toàn không có kinh nghiệm kỹ thuật, kiến trúc hay công trình. Đến khâu nghiệm thu an toàn, thay vì đổ đầy bồn để kiểm tra sức chịu tải và độ kín của các mối nối, ông chỉ cho bơm vẻn vẹn sáu inch nước vào bồn để thử rò rỉ rồi đưa ngay vào vận hành. [9]
Hậu quả xuất hiện gần như tức thì khi chiếc bồn bắt đầu rò rỉ ngay từ ngày đầu tiên. Vết rỉ nghiêm trọng đến mức trở thành điểm quen thuộc của trẻ em quanh vùng, chúng thường mang cốc đến hứng mật đường ngọt rỉ ra từ bồn trước khi thảm họa xảy ra. Trái ngược với sự vô tư của lũ trẻ, những người làm việc tại đây luôn nơm nớp lo sợ. Isaac Gonzales đã ngủ tại khu bồn trong nhiều tháng liên tục chỉ vì muốn kịp thời báo động nếu bồn đổ. [13][3][17]
Năm 1917, tập đoàn United States Industrial Alcohol mua lại Purity Distilling. Thay vì khắc phục những hư hại về mặt kết cấu, Arthur Jell lại tìm cách che đậy sự cố. Đến năm 1918, ông cho người sơn toàn bộ bồn chứa sang màu nâu để ngụy trang lớp mật đường đang rỉ ra bên ngoài vỏ thép. [8][9]
Thuyết âm mưu đánh bom và phiên tòa lịch sử năm năm
Sau thảm họa, các nạn nhân đã nộp 119 vụ kiện riêng biệt chống lại United States Industrial Alcohol. Nhằm thoái thác trách nhiệm, phía USIA cho rằng những kẻ vô chính phủ đã cố ý phá nổ bồn chứa. Công ty viện dẫn một cuộc gọi vào năm 1918, khi một người không rõ danh tính gọi đến USIA đe dọa sẽ phá hủy bồn bằng dynamite. [5][6]
Cảnh sát đã mở cuộc điều tra về giả thuyết đánh bom này nhưng không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào. Vụ việc sau đó bước vào một quá trình pháp lý kéo dài suốt năm năm. Để làm sáng tỏ các tình tiết, phiên xét xử đã xem xét hơn 1.500 vật chứng và triệu tập khoảng 1.000 nhân chứng ra lấy lời khai. [11][5]
Cuộc đối đầu tại tòa diễn ra căng thẳng đến mức riêng phần tranh luận kết thúc đã kéo dài tới 11 tuần. Đến tháng 4 năm 1925, Hugh W. Ogden chính thức đưa ra phán quyết quy trách nhiệm cho USIA. Ogden kết luận rằng chính việc lập kế hoạch kém và thiếu giám sát của công ty, chứ không phải bom, đã dẫn đến tình trạng hỏng kết cấu bồn. [5]
Sau phán quyết, USIA phải chi trả 628.000 đô la tiền bồi thường cho các nạn nhân và gia đình của họ. Mức bồi thường được phân định theo hoàn cảnh thương vong: gia đình của người chết ngay được nhận 6.000 đô la, còn trường hợp phải chịu đau đớn trước khi chết như George Layhe được nhận 7.500 đô la. [5][11]
Khoa học hiện đại bóc trần hai phút định mệnh
Gần một thế kỷ sau phán quyết của tòa án, các công cụ kỹ thuật hiện đại mới lật lại từng chi tiết cấu trúc của chiếc bồn định mệnh. Phân tích năm 2014 của Ronald Mayville cho thấy vách thép của bồn dày từ 0,67 inch ở đáy đến 0,31 inch ở đỉnh, kích thước quá mỏng để chịu được khối lượng khi chứa đầy mật đường. Ngay cả khi đối chiếu với tiêu chuẩn xây dựng đương thời, thành bồn vẫn mỏng hơn mức cần thiết ít nhất 50%. Mayville cũng chỉ ra thiết kế đinh tán có lỗi nghiêm trọng, tạo ra ứng suất quá lớn dồn nén quanh các lỗ đinh tán và đây chính là vị trí những vết nứt chí mạng bắt đầu xé toạc kim loại. [3][13]
Hiểm họa cấu trúc còn bị khuếch đại bởi bản chất luyện kim và thời tiết mùa đông. Mayville phát hiện hàm lượng mangan thấp khiến loại thép dùng làm bồn trở nên giòn và dễ nứt vỡ hơn. Loại thép này sẽ chuyển sang trạng thái giòn khi nhiệt độ môi trường hạ xuống dưới 59°F. Vào ngày xảy ra thảm họa, nhiệt độ không khí tại Boston dù đã nhích lên vượt 40°F, tức khoảng 4°C, sau những ngày giá buốt, nhưng con số ấy vẫn nằm sâu dưới ngưỡng an toàn của lớp vỏ kim loại. [13][3][2]
Tình hình càng thêm nguy hiểm từ chính chuyến hàng cuối cùng. Hai ngày trước thảm họa, một con tàu cập cảng đã bơm vào bồn 2,3 triệu gallon mật đường mới từ Puerto Rico. Nhóm nghiên cứu của Nicole Sharp tại Đại học Harvard nhận định lượng mật đường này có lẽ vẫn ấm hơn nhiệt độ không khí bên ngoài khoảng 5°C lúc bồn sụp đổ. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa dòng mật ấm bên trong và lớp vỏ thép lạnh giá bên ngoài tiếp tục tạo ra ứng suất cơ học âm ỉ đè nặng lên các mối nối. [3][15]
Bí ẩn lớn nhất về việc một chất lỏng sánh đặc lại có thể di chuyển như lũ quét cũng được cơ học chất lưu làm sáng tỏ. Nghiên cứu của Nicole Sharp và nhóm Harvard xác nhận dòng sóng ban đầu có thể đạt tốc độ 35 dặm một giờ. Sharp giải thích rằng trong 60 đến 90 giây đầu tiên, quán tính của khối chất lỏng khổng lồ mạnh hơn rất nhiều so với tác động của độ nhớt, đẩy toàn bộ lượng mật đường cuộn trào với sức tàn phá khủng khiếp. Nhưng khi khối chất lỏng lan ra mặt đất và nguội dần từ 10°C xuống 0°C giữa trời đông giá, độ nhớt của mật đường tăng gấp ba. Cơn sóng hung hãn nhanh chóng biến thành một bẫy keo đặc quánh, dính chặt mọi nạn nhân vào lớp bùn mật lạnh ngắt. [9][15]
Mùi hương ký ức và vết tích hai mươi inch dưới lòng đất
Sau thảm kịch, tập đoàn USIA không bao giờ xây dựng lại chiếc bồn thép, và phần lớn khu đất ngập tràn mật đường năm xưa nay đã trở thành công viên Langone Park. Di sản nặng nề từ sự cẩu thả của Arthur Jell đã buộc chính quyền Boston phải thay đổi quy chuẩn xây dựng từ gốc rễ: thành phố bắt đầu yêu cầu các chủ đầu tư phải nộp toàn bộ tính toán kỹ thuật của kỹ sư và kiến trúc sư cùng hồ sơ thiết kế, kèm theo những bản vẽ bắt buộc phải đóng dấu và có chữ ký xác nhận. Suốt nhiều thập niên sau đó, giai thoại địa phương vẫn kể rằng đường phố Boston đến tận ngày nay đôi khi vẫn phảng phất mùi mật đường. Dù Puleo chỉ ra rằng không có bằng chứng nào cho thấy mùi mật đường còn vương lại ngoài bờ cảng, ông vẫn ghi nhận lời kể của một nhân viên từng đọc đồng hồ cho hãng Boston Gas vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, người quả quyết mình vẫn ngửi thấy hương mật ngạt ngào bốc lên trong các tầng hầm nằm đối diện vị trí chiếc bồn cũ. [9][8][19][11]
Năm 2019, đúng một thế kỷ sau ngày bồn vỡ, hai nhà nghiên cứu John M. Steinberg và Grace E. Bello đã mang thiết bị radar xuyên đất cùng máy đo độ dẫn điện điện từ đến Langone Park để khảo sát lại vị trí đặt công trình năm xưa. Tại lễ tưởng niệm tròn 100 năm thảm họa, hơn 60 người đã tề tựu, lặng lẽ đứng thành một vòng tròn lớn bao quanh vị trí chiếc bồn cũ. Giữa buổi lễ tưởng niệm, nhà khảo cổ thành phố Joe Bagley đã chỉ xuống nền cỏ và khẳng định rằng phần móng bồn thực chất vẫn còn nằm lại dưới chân những người tham dự ở độ sâu khoảng 20 inch. [7][16]
Mặt cỏ yên bình bên bờ vịnh hôm nay đã xóa sạch mọi dấu vết của cơn sóng mật sẫm màu từng cuộn trào tàn phá cả khu phố. Sâu trong lòng đất công viên, dấu tích nền móng từ chiếc bồn cẩu thả của Arthur Jell vẫn nằm im lìm trong bóng tối. Khối kết cấu bị chôn vùi ấy tiếp tục ở lại cùng Boston, như một lời nhắc nhở trầm mặc về bài học an toàn sinh mạng đã định hình nên các quy chuẩn xây dựng hiện đại của cả thành phố. [9][16]
Nguồn
- Molasses (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Great Molasses Flood (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Why the Great Molasses Flood Was So Deadly | HISTORY (www.history.com, bài viết)
- The Science of the Great Molasses Flood | Scientific American (www.scientificamerican.com, bài viết)
- Great Molasses Flood of 1919: Date, Deaths & Facts | HISTORY (www.history.com, bài viết)
- The Great Boston Molasses Flood: why the strange disaster matters today | Boston | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
- Results of Geophysical survey at Langone Park: 100 Years since the Great Molasses Flood – The Fiske Center Blog (blogs.umb.edu, bài viết)
- The Boston Molasses Disaster: Causes of the Molasses Tank Explosion (www.brighthub.com, bài viết)
- The Great Boston Molasses Flood of 1919 killed 21 after 2 million gallon tank erupted (www.nbcnews.com, bài viết)
- Eric Postpischil’s Molasses Disaster Pages, Smithsonian Article (edp.org, bài viết)
- 12 Things You Didn't Know about the Great Boston Molasses Flood (www.bostonmagazine.com, bài viết)
- ‘There was no escape from the wave’: These are the 21 victims of the Great Boston Molasses Flood (www.boston.com, bài viết)
- Nearly a century later, structural flaw in molasses tank revealed - The Boston Globe (www.bostonglobe.com, bài viết)
- Slow as molasses? Sweet but deadly 1919 disaster explained (www.boston.com, bài viết)
- Molasses Creates a Sticky Situation (web.archive.org, bài viết)
- Boston officials remember the Great Molasses Flood, 100 years later - The Boston Globe (www.bostonglobe.com, bài viết)
- NFPA Journal - The Great Boston Molasses Flood (web.archive.org, bài viết)
- Protest The Hero – All Hands Lyrics | Genius Lyrics (genius.com, bài viết)
- News & Features | ANNALS OF STRANGE DISASTER (web.archive.org, bài viết)
- Boston, MA 'Molasses Flood' Tank Explosion, Jan 1919 | GenDisasters ... Genealogy in Tragedy, Disasters, Fires, Floods (web.archive.org, bài viết)
- Hookah (Shisha, Narghile) Smoking and Environmental Tobacco Smoke (ETS). A Critical Review of the Relevant Literature and the Public Health Consequences - PMC (www.ncbi.nlm.nih.gov, nguồn gốc)
Ảnh bìa: BPL · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.