Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Những bản thảo bị phân tán đã làm thay đổi chân dung Isaac Newton ra sao?

· Khám phá

Ảnh minh họa do AI tạo về các bản thảo viết tay của Isaac Newton được chia thành nhiều lô trên một bàn đấu giá năm 1936.
Minh họa AI, không phải ảnh tư liệu hay bản phục dựng khoa học chính xác.

Trong hai ngày tháng 7 năm 1936, giấy tờ của Isaac Newton được chia thành nhiều lô tại một phiên đấu giá của Sotheby’s. Giữa những trang viết ấy không chỉ có toán học và vật lý, mà còn có ghi chép về giả kim thuật, Kinh Thánh và lịch sử giáo hội. Sự xuất hiện của chúng không phủ nhận Newton, nhà khoa học đã được biết đến rộng rãi. Điều thay đổi là phạm vi của chân dung: ông không chỉ nghiên cứu những vấn đề ngày nay được xếp vào khoa học, mà còn theo đuổi các câu hỏi về vật chất, tôn giáo và trật tự của thế giới. Câu chuyện các bản thảo bị giữ kín, phân loại rồi phân tán cho thấy ký ức lịch sử phụ thuộc đáng kể vào tài liệu nào được phép xuất hiện trước công chúng. [1]

Vì sao giấy tờ của Newton bị chia nhỏ?

Sau khi Newton qua đời năm 1727, phần lớn bản thảo chưa công bố được truyền qua những người thân rồi thuộc về gia đình các bá tước Portsmouth. Chỉ một số ít người được tiếp cận chúng trong gần hai thế kỷ. Năm 1936, Gerard Wallop, Viscount Lymington, gặp khó khăn tài chính và phải bán bất động sản cùng một phần tài sản gia đình. Sotheby’s đưa giấy tờ của Newton ra đấu giá trong hai ngày 13 và 14 tháng 7. Một kho tư liệu từng được giữ tương đối tập trung từ đó đi vào tay nhiều nhà buôn và nhà sưu tập khác nhau. [1]

Việc chia lô ảnh hưởng đến nhiều thứ hơn quyền sở hữu. Một bản thảo riêng lẻ có thể cho biết Newton đã chép công thức hay sửa một đoạn văn thế nào, nhưng quan hệ giữa nó với các tờ khác mới giúp người đọc theo dõi quá trình hình thành ý tưởng. Khi những phần liên quan nằm ở các bộ sưu tập khác nhau, trình tự ấy trở nên khó dựng lại. Mặt khác, phiên đấu giá cũng đưa các tài liệu vốn gần như bị khóa kín vào lưu thông. Sự phân tán vừa làm mất bối cảnh vật chất của kho giấy tờ, vừa tạo cơ hội để những phần ít được biết đến xuất hiện trở lại. [1]

Các bản thảo bị xem nhẹ chứa điều gì?

Nhiều trang viết liên quan đến giả kim thuật, lịch sử giáo hội và cách Newton giải thích Kinh Thánh. Phần giả kim chủ yếu gồm ghi chú đọc sách, công thức và nỗ lực giải nghĩa lối viết ẩn dụ của những tác giả khác. George Starkey, người viết dưới tên Eirenaeus Philalethes, có ảnh hưởng đáng kể đối với Newton và được ông gọi là nhà triết học Mỹ. Khối lượng công việc này cho thấy giả kim không phải một tò mò nhất thời. Nó là một hướng nghiên cứu được Newton theo đuổi lâu dài, dù kết quả không có vị trí giống toán học hay vật lý trong khoa học hiện đại. [1]

Điều đó không biến Newton thành hình ảnh đối lập với một nhà khoa học. Trong thế kỷ XVII, ranh giới giữa giả kim, hóa học, triết học tự nhiên và thần học chưa trùng với cách phân ngành hiện nay. Một người có thể đồng thời khảo sát vật chất, đọc văn bản cổ và tìm kiếm một trật tự thống nhất phía sau tự nhiên. Một số tiền đề của giả kim về sau bị bác bỏ, nhưng các trang ghi chép vẫn có giá trị khi giúp người đọc hiểu Newton đã đặt câu hỏi ra sao. Chúng bổ sung bối cảnh cho hoạt động trí tuệ của ông, chứ không làm giảm giá trị những thành tựu đã được kiểm chứng trong các lĩnh vực khác. [1]

Vì sao chúng không được công bố sớm hơn?

Newton đã hủy một số giấy tờ trước khi qua đời nhưng không để lại di chúc hoặc chỉ dẫn rõ ràng về phần còn lại. Sarah Dry đưa ra cách diễn giải rằng ông có thể xem nội dung đó vừa quan trọng để lưu giữ, vừa nguy hiểm nếu công bố ngay. Đây là giả thuyết về ý định của Newton, không phải kết luận chắc chắn. Sự thận trọng vẫn có cơ sở từ tính chất tài liệu: nhiều ghi chép giả kim còn rời rạc, khó đọc và chưa thành tác phẩm hoàn chỉnh, trong khi quan điểm thần học của ông có thể gây hậu quả nghiêm trọng trong bối cảnh đương thời. [1]

Qua việc nghiên cứu Kinh Thánh và các tác giả Kitô giáo thời kỳ đầu, Newton bác bỏ giáo lý Ba Ngôi và giữ quan điểm gần với Arianism, một lập trường bị coi là dị giáo trong môi trường của ông. Sau khi ông mất, những người thừa kế cũng không muốn công khai phần này. Họ nhờ Thomas Pellet, thành viên Royal Society, xem giấy tờ để tìm nội dung có thể xuất bản. Pellet chỉ chọn một số ít văn bản. Vì vậy, độc giả dễ gặp Newton qua các tác phẩm khoa học đã hoàn thiện hơn qua những ghi chép thần học và giả kim còn dang dở. Sự chênh lệch về khả năng tiếp cận dần trở thành sự chênh lệch trong danh tiếng. [1]

Phân loại tài liệu đã định hình ký ức thế nào?

Năm 1872, bá tước Portsmouth thứ năm đề nghị tặng phần giấy tờ khoa học của Newton cho Đại học Cambridge. George Gabriel Stokes và John Couch Adams tham gia sắp xếp khối tài liệu, một công việc kéo dài 16 năm. Cuối cùng, những gì được nhận diện là toán học hoặc khoa học được chuyển tới Cambridge; phần lớn ghi chép thần học và giả kim trở về với gia đình vì không được xếp vào phạm vi khoa học. Cách phân loại ấy phù hợp với quan niệm học thuật của người thực hiện, nhưng đồng thời áp ranh giới của thế kỷ XIX lên một người sống trong thế kỷ XVII. [1]

Từ đó hình thành một cơ chế chọn lọc dễ thấy: tài liệu được bảo quản tại trường đại học, lập danh mục và mở cho nghiên cứu có nhiều khả năng đi vào sách vở; giấy tờ nằm trong kho riêng hoặc bị coi là ngoài lề thì ít được nhắc tới. Không cần giả định một kế hoạch che giấu thống nhất để giải thích kết quả này. Nhiều quyết định riêng biệt của người thừa kế, người phân loại và người mua đã cùng tạo ra hình ảnh Newton chủ yếu là nhà toán học và vật lý. Chân dung ấy dựa trên thành tựu có thật, nhưng không bao quát toàn bộ những câu hỏi từng chiếm thời gian của ông. [1]

Một bản thảo trở lại có ý nghĩa gì?

Trong các lô bán năm 1936 có bản chép tay của Newton về một công thức giả kim gắn với Eirenaeus Philalethes. Nhà buôn Emmanuel Fabius mua bản thảo và giữ nó cho đến khi qua đời năm 1984. Tài liệu xuất hiện tại một cuộc đấu giá năm 2004, sau đó lại rời khỏi tầm nhìn công khai. Đến năm 2016, Science History Institute mua được bản thảo tại Pasadena, đưa nó vào thư viện và số hóa với độ phân giải cao. Quá trình này minh họa sự khác biệt giữa một hiện vật thuộc bộ sưu tập kín và một tài liệu mà người nghiên cứu ở nhiều nơi có thể xem xét. [1]

Hình thức các trang giấy cũng cho biết vì sao quyền tiếp cận quan trọng. Newton có lúc viết từ hai đầu một tập giấy nhỏ, xoay ngược trang, gạch bỏ đoạn cũ rồi chen bản sửa vào giữa các dòng. Ông còn có thể dùng lại một tờ giấy sau thời gian dài cho nội dung khác. Bởi vậy, mỗi trang không nhất thiết chứa một lập luận hoàn chỉnh hay được viết trong cùng một thời điểm. Khi bản thảo được số hóa và đặt cạnh những tài liệu liên quan, người đọc có thêm điều kiện nhận ra các lớp sửa đổi ấy. Những trang giấy trở lại không viết lại các định luật của Newton; chúng giúp hậu thế nhìn rõ hơn con người đã đi qua nhiều con đường để tìm hiểu thế giới. [1]