Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Percy Fawcett và thành phố Z: người mất tích, những đô thị thật trong Amazon

· Bí ẩn

Minh họa con đường đất có bờ đắp nối với khoảng đất trống trong rừng Amazon.
Minh họa AI, không phải ảnh tư liệu; không mô tả khuôn mặt người thật.

Ngày 29 tháng 5 năm 1925, từ Trại Ngựa Chết, Percy Fawcett gửi lá thư cuối cho vợ qua một người đưa tin bản địa. Ông báo đã sẵn sàng đi vào vùng chưa được khám phá, chỉ cùng Jack và Raleigh Rimell. Câu cuối vẫn là lời trấn an: «Em đừng lo chuyến đi sẽ thất bại...» Nhưng ông đã dặn riêng rằng nếu đoàn không trở về, đừng tổ chức cứu hộ. [1]

Ông đang đi tìm điều gì để sẵn sàng bước tiếp như vậy? Và những dấu vết về sau liệu có thực sự dẫn tới người đã gửi lời nhắn lạc quan từ Trại Ngựa Chết? [1]

Người đo biên giới thành huyền thoại

Gần bốn mươi năm trước lá thư ấy, Fawcett bắt đầu sự nghiệp trong quân ngũ. Ngày 24 tháng 7 năm 1886, ông được bổ nhiệm làm trung úy Royal Artillery. Đến năm 1901, ông gia nhập Hội Địa lý Hoàng gia để học đo đạc và lập bản đồ. [1]

Ở những vùng biên giới ấy, bản đồ mang hậu quả vượt xa việc xác định một dòng sông hay một dãy núi. Tình trạng biên giới chưa được xác định rõ có thể dẫn tới chiến tranh. Vì thế, Hội Địa lý Hoàng gia được giao làm bên thứ ba độc lập, không đứng về lợi ích của bất kỳ quốc gia nào trong khu vực. Fawcett bước vào Amazon trong năm 1906, khi tổ chức cử ông sang Brazil lập bản đồ vùng rừng giáp Bolivia. Mỗi đường ranh ghi lại trên thực địa đều liên quan đến cách các quốc gia nhìn nhận lãnh thổ của mình. [1][3]

Công việc ấy đòi hỏi ông đi tìm những điểm bắt đầu của các dòng sông và biến vùng chưa được khảo sát thành những dấu mốc có thể sử dụng. Năm 1908, ông lần tìm đầu nguồn sông Rio Verde. Hai năm sau, ông tới sông Heath trên biên giới Bolivia–Peru để tìm đầu nguồn. Năm 1911, cùng Henry Costin và James Murray, ông lập bản đồ hàng trăm dặm rừng chưa được khảo sát. [1]

Trong những lần tiếp xúc, ông thường duy trì quan hệ thân thiện với người bản địa bằng quà tặng, sự kiên nhẫn và thái độ lịch thiệp. Một giai thoại chưa được kiểm chứng kể rằng, trong cuộc chạm trán có tên bắn, Fawcett bảo người trong đoàn chơi đàn accordion. Nếu giai thoại là thật, tiếng đàn đã giúp hạ nhiệt tình thế căng thẳng. [1][3]

Các báo cáo thực địa Amazon của ông sau đó truyền cảm hứng cho tiểu thuyết *The Lost World* của Conan Doyle. Kinh nghiệm đo đạc, lần tìm đầu nguồn và đi qua những vùng rừng chưa có bản đồ đã bước sang thế giới tưởng tượng. Từ đây, tên Fawcett gắn với những miền đất kỳ lạ trong văn chương; còn các báo cáo ông viết vẫn thuộc về công việc thực địa, nơi mỗi con sông và đường biên phải được ghi nhận qua hành trình cụ thể. [1]

Điều ít ai biết: Z bắt đầu từ những gì?

Fawcett cũng mang về những chuyện gây hoài nghi. Theo giai thoại, ông tuyên bố đã thấy và bắn một con anaconda dài 19 mét năm 1907, nhưng bị giới khoa học chế giễu. Những hạt lạc khổng lồ ông tìm được tại Mato Grosso lại có cách nhận diện cụ thể: gần như chắc chắn thuộc loài Arachis nambyquarae, có quả dài tới 9 cm. [1]

Ông hình thành giả thuyết rằng vùng rừng từng có một nền văn minh phức tạp, với những phế tích biệt lập có thể còn sót lại. Fawcett tìm được Manuscript 512, tài liệu lưu tại Thư viện Quốc gia ở Rio de Janeiro, được cho là do nhà thám hiểm thuộc địa Bồ Đào Nha João da Silva Guimarães viết. Người viết kể rằng năm 1753, ông tìm thấy phế tích một thành phố có vòm, tượng và đền với chữ tượng hình. [1]

Manuscript 512 mô tả thành phố rất chi tiết. Nhưng tài liệu lại thiếu vị trí cụ thể. [1]

Trong hình dung của Fawcett, thành phố ấy là một Atlantis trong Amazon, với kim tự tháp đá, đường lát đá và chữ viết dạng bảng chữ cái. Ông còn mang theo một bức tượng ngọc hình người và tuyên bố tượng có quyền năng siêu nhiên đối với các cộng đồng bản địa Amazon. Đó là lời tuyên bố chưa được kiểm chứng. [4][1]

Năm 1920, Fawcett đi cùng Ernest G. Holt và Lewis Brown, nhưng phải bỏ dở chuyến đi vì các bạn đồng hành không chịu nổi gian khổ. [1]

Đoàn đi gọn và hai vị trí của một trại

Ngày 20 tháng 4 năm 1925, Percy Fawcett rời Cuiabá trong chuyến thám hiểm cuối cùng. Ông chỉ chọn Jack và Raleigh Rimell làm bạn đồng hành để đi gọn nhẹ, ít gây chú ý với các cộng đồng bản địa. Nhưng lúc khởi hành, đoàn còn có hai lao động Brazil, hai ngựa, tám la và hai chó. [1]

Trong hành trang, ông mang đồ hộp và sữa bột, cùng súng, pháo sáng, kính lục phân và đồng hồ đo thời gian chính xác. [1]

Quy mô nhóm đi sâu vào rừng tương phản với lượng người chờ tin bên ngoài. Hàng triệu người theo dõi những báo cáo ông gửi về qua người đưa tin địa phương. [1][5]

Vị trí Trại Ngựa Chết lại xuất hiện khác nhau trong thư và báo cáo ông gửi đi. Trong thư gửi vợ, Fawcett đặt Dead Horse Camp ở 11°43′ Nam, 54°35′ Tây; đó là nơi ngựa của ông chết năm 1920. Báo cáo gửi North American Newspaper Alliance ghi trại ở 13°43′ Nam, 54°35′ Tây. [1]

Đến tháng 1 năm 1927, gần hai năm sau thông điệp cuối, Hội Địa lý Hoàng gia (RGS) chính thức coi Fawcett, Jack và Raleigh Rimell là mất tích. [1]

Đồ vật đúng, người mất tích vẫn chưa thấy

Dấu vết mang tên Fawcett xuất hiện năm 1927: một tấm biển tên của ông được tìm thấy trong một cộng đồng bản địa. Nhưng tấm biển thuộc chuyến thám hiểm trước đó năm năm, nhiều khả năng đã được tặng cho tù trưởng. Cũng năm đó, George Miller Dyott tuyên bố tìm được chứng cứ ông bị người Aloique giết; lời kể này không thuyết phục. [1]

Tháng 6 năm 1933, Đại tá Aniceto Botelho tìm thấy la bàn kinh vĩ của ông gần người Baciary ở Mato Grosso. Chiếc la bàn cũng có thật, nhưng việc kiểm tra cho thấy Fawcett đã bỏ lại dụng cụ ấy trước khi vào rừng trong chuyến cuối. [1]

Trong giai đoạn 1930–1931, Aloha Wanderwell tìm Fawcett bằng thủy phi cơ, tìm cách đáp xuống sông Paraguay. Chuyến tìm kiếm dẫn tới một cuộc hạ cánh khẩn cấp. Sau đó, Aloha sống sáu tuần với người Bororo rồi cùng chồng trở về. [1]

Năm 1951, Orlando Villas-Bôas nhận một số xương được cho là của Fawcett và đem phân tích khoa học. Kết quả ban đầu được cho là xác nhận danh tính ấy, nhưng Brian, con trai ông, không chấp nhận. Những phân tích về sau bác bỏ việc nhận diện: các bộ xương ấy thuộc về người khác. [1]

Năm 1998, Benedict Allen tới gặp người Kalapalo để hỏi về vụ mất tích. Trong cuộc phỏng vấn BBC với Allen, trưởng lão Vajuvi nói những bộ xương Villas-Bôas tìm được không thuộc về Fawcett. Vajuvi cũng phủ nhận cộng đồng mình có vai trò trong vụ mất tích; lời phủ nhận ấy chưa có chứng cứ đủ sức xác nhận. [1]

Sự thật và lời đồn sau những đốm lửa

Dấu vết cuối cùng liên quan đến số phận Fawcett là thông tin về sức khỏe của hai người đồng hành: khi được nhìn thấy lần cuối, Jack và Raleigh Rimell đều đi khập khiễng và bị bệnh. [1]

Truyện truyền miệng Kalapalo kể rằng ba nhà thám hiểm đi về phía đông; sau năm ngày, người Kalapalo không còn thấy họ đốt lửa trại. Lời kể chỉ nhắc đến lúc những đốm lửa biến mất, chứ chưa cho biết đoàn tử vong khi nào. Người Kalapalo còn kể rằng một nhóm bản địa rất hung bạo có nhiều khả năng đã giết đoàn. Đây là lời truyền miệng chưa được kiểm chứng; bằng chứng chưa đủ để kết luận đoàn bị sát hại. [1]

John Hemming cho rằng đoàn chỉ ba người quá ít để sống sót trong rừng. Ông cũng nhận định việc trông đợi chủ nhà bản địa chăm sóc mà không mang quà đáp lễ có lẽ đã khiến họ phật lòng. Henry Costin lại tin rằng Fawcett chết vì thiếu thức ăn hoặc kiệt sức, đặt sức chịu đựng của ông vào trung tâm lời giải thích. [1]

Ngay số người chết khi đi tìm cũng có hai thông tin mâu thuẫn. Guardian năm 2004 nói hơn 13 đoàn tìm kiếm thất bại và 100 người chết trong nỗ lực tìm Fawcett. Nhưng một nguồn khác gọi con số 100 là hư cấu và cho rằng chỉ có một người đi tìm đơn độc thiệt mạng. Tổng thiệt hại vì thế vẫn chưa được xác lập. [6][1]

Misha Williams tin các đoàn trước đã đi sai hướng và tìm sai thứ. Trong giả thuyết của Williams, Fawcett muốn lập cộng đồng bí mật, kết hợp việc tôn thờ Jack với các tín điều Thông thiên học. [6]

Chiếc nồi cổ và con hào trong rừng

Tháng 1 năm 1993, tù trưởng Afukaka dẫn nhà khảo cổ Michael Heckenberger tới một hào ở Nokugu, di chỉ X6. Hào chạy dài hơn 2 km giữa rừng, sâu 2–3 mét và rộng hơn 10 mét. [4]

Afukaka nhận ra những mảnh nồi nằm giữa di chỉ. Hình dáng và chi tiết trên các mảnh gốm giống đến từng phần nhỏ những chiếc nồi mà các bà vợ của ông dùng để chế biến sắn. [4]

Nokugu thuộc Kuhikugu, vùng nằm ở đầu nguồn sông Xingu trong rừng Amazon ở Brazil. Michael Heckenberger phát hiện khu vực này khi làm việc cùng người Kuikuro địa phương, những người có khả năng là hậu duệ của cư dân ban đầu. [2]

Định tuổi carbon phóng xạ giúp xác định thời điểm các cấu trúc định cư liên kết hình thành. Những mẫu tại X6, X11 và X13 cho thấy mạng lưới ấy đã xuất hiện khoảng năm 1250–1400. Nghiên cứu đăng trên Science xác định 19 khu định cư lớn tiền Colombo trong vùng khảo sát Kuikuro, thường cách nhau 3–5 km. Đây chỉ là số khu định cư trong phạm vi nghiên cứu; Amazon có thể từng có nhiều đô thị hơn. [8]

Các khu định cư nối với nhau bằng những con đường chính có bờ đắp rộng 10–50 mét, dẫn tới quảng trường và hào. Một số quảng trường rộng khoảng 150 mét; mỗi cụm như X6 hoặc X11 có thể từng chứa 2.500–5.000 cư dân trong vùng khoảng 400 km². Thành cổ mà Afukaka nhìn thấy giống làng hiện tại của ông ở quảng trường trung tâm và những con đường tỏa tia, chỉ lớn gấp mười lần. [8][2][4]

Những thành phố không giống Atlantis

Những phát hiện ở đây cho thấy một kiểu cư trú khác với thành phố Z mà Fawcett hình dung: các «thành phố vườn» có mật độ thấp hơn Rio de Janeiro hay São Paulo. Các khu định cư ấy cho thấy khả năng tổ chức đời sống của cư dân bản địa, nhưng toàn bộ kiến trúc trong hình dung của ông vẫn chưa được xác nhận. [7]

Dấu vết đời sống nằm ngay trong những ngôi nhà và đồ gốm nấu ăn. Cư dân đã sống tại các đô thị này khoảng 1.000 năm, từ khoảng 1.500 đến 400 năm trước. [7]

Mạng lưới đi lại cũng có nhiều hình thức: một số đường có cầu, một số khác có kênh đi xuồng chạy song song. Quy mô xây dựng còn có một ví dụ hiện đại cụ thể: ngôi nhà dành cho tù trưởng Kuikuro xây năm 1993 rộng hơn 1.000 m². [7][4]

Ở Kuhikugu, dấu tích đập và ao gợi ý cư dân có thể đã nuôi cá. Heckenberger cho rằng các đô thị nhiều khả năng suy tàn vì bệnh do người châu Âu mang tới đầu thế kỷ XVI. [2][7]

Sau khoảng 400 năm bị bỏ hoang, một số khu vực liên quan tới X6, X11 và X13 vẫn chưa trở lại thành rừng cây cao. [8]

Fawcett và cách nhìn Amazon hôm nay

Những thành phố vườn ở Xingu không phải thành phố Z với kim tự tháp và chữ viết mà Fawcett hình dung, và cũng không cho biết ông đã chết ở đâu. [7]

Lịch sử cư trú ấy cũng gắn với cách người bản địa quản lý đất theo những chu kỳ luân canh dài. Thời gian luân canh là một phần của cách sử dụng đất, nên không thể đánh đồng phương thức ấy với kiểu phát quang toàn bộ hiện nay chỉ vì cả hai đều có tác động của con người lên cảnh quan. Trong cách tiếp cận hợp tác để tìm hiểu Amazon trước và sau năm 1492, sự tham gia của người bản địa giữ vai trò quan trọng nhất. [8]

Ông đã đúng một nửa: rừng Amazon từng có những khu định cư lớn nối với nhau bằng đường. Nhưng người viết lá thư cuối từ Trại Ngựa Chết chưa bao giờ trở về để thấy chúng. Những di tích còn lại đặt trước mắt chúng ta một khu rừng mang dấu ấn cư trú mạnh mẽ của con người, nơi lịch sử đời sống vẫn hiện diện trong cảnh quan tưởng như hoàn toàn nguyên sơ. [7]

Nguồn

  1. Percy Fawcett (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. Kuhikugu (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  3. Virtual Exploration Society - Colonel Percy Fawcett (web.archive.org, nguồn gốc)
  4. Lost Garden Cities: Pre-Columbian Life in the Amazon | Scientific American (www.scientificamerican.com, bài viết)
  5. Lost in the Amazon | About the Episode | Secrets of the Dead | PBS (www.pbs.org, bài viết)
  6. Veil lifts on jungle mystery of the colonel who vanished | UK news | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
  7. Ancient Amazon Actually Highly Urbanized | Scientific American (www.scientificamerican.com, bài viết)
  8. Science -- Heckenberger et al. 301 (5640): 1710 (web.archive.org, bài viết)
  9. E. Douglas Fawcett (1866 – 1960) (web.archive.org, bài viết)
  10. The epic of Percy Fawcett and the mysteries of the Serra del Roncador • Neperos (www.neperos.com, bài viết)

Ảnh minh họa do AI tạo, không phải ảnh tư liệu; không mô tả khuôn mặt người thật.