Thuốc phiện đã nuôi bộ máy Đế quốc Anh như thế nào?

Năm 1839, quan nhà Thanh Lin Zexu cho tiêu hủy hơn 20.000 rương thuốc phiện bị thu giữ tại Quảng Châu. Vì sao một mặt hàng bị cấm ở Trung Quốc lại khiến chính phủ Anh đáp trả bằng quân sự? Câu trả lời không nằm ở riêng một lô hàng, mà ở mạng lưới đã nối người trồng tại Ấn Độ, các phiên đấu giá ở Calcutta, thương nhân châu Á và ngân sách thuộc địa. Thuốc phiện không tạo ra toàn bộ Đế quốc Anh, nhưng giúp nhiều lợi ích kinh tế và chính trị vận hành cùng nhau. [1]
Một mặt hàng châu Á trước khi thành công cụ đế quốc
Anh không đưa thuốc phiện vào châu Á. Nhựa từ cây anh túc đã được sử dụng ở nhiều vùng trong thời gian dài, vừa trong y học vừa để tạo cảm giác say. Nó cũng lưu thông qua các mạng lưới thương mại gắn với Đế quốc Mughal và Đế quốc Ottoman. Khi mở rộng quyền lực tại Ấn Độ, người Anh không tạo ra nhu cầu từ con số không; họ tìm cách kiểm soát một loại hàng hóa đã có thị trường. [1]
Điều thay đổi là quy mô và ý nghĩa chính trị của mặt hàng này. Thuốc phiện cùng lúc có thể là thuốc, chất gây nghiện, cây trồng đem lại tiền mặt và nguồn thuế. Vì vậy, nó không chỉ được nhìn như một sản phẩm nông nghiệp. Ai kiểm soát ruộng trồng, nơi bán và tuyến vận chuyển sẽ có ảnh hưởng đến cả ngân sách lẫn quan hệ với những nơi tiêu thụ. [1]
Từ ruộng trồng đến ngân sách thuộc địa
Công ty Đông Ấn là lực lượng quan trọng trong quá trình mở rộng của Anh tại Ấn Độ. Công ty vừa giành lãnh thổ, thu thuế, duy trì quân đội, vừa thiết lập độc quyền sản xuất và bán thuốc phiện tại những vùng nằm dưới quyền kiểm soát. Độc quyền cho phép chính quyền quản lý dòng hàng từ khâu gieo trồng đến lúc đưa ra thị trường. [1]
Người trồng thường nhận tiền ứng trước để gieo cây rồi phải giao sản phẩm cho chính quyền với mức giá cố định. Thuốc phiện được chế biến và bán tại các phiên đấu giá ở Calcutta. Sau đó, thương nhân tư nhân vận chuyển hàng tới các thị trường ngoài Ấn Độ. Cách tổ chức này chia vai khá rõ: nhà chức trách kiểm soát nguồn cung, còn thương nhân đảm nhận phần lưu thông đường biển. [1]
Một ước tính được bài viết dẫn lại cho rằng thuốc phiện từng chiếm khoảng 15% doanh thu của chính quyền thuộc địa tại Ấn Độ vào giai đoạn đỉnh điểm giữa thế kỷ 19. Đây là tỷ lệ trong ngân sách của chính quyền Ấn Độ thuộc Anh, không phải tỷ lệ của toàn bộ thu nhập Đế quốc Anh. Dù vậy, con số này cho thấy mặt hàng đã trở thành một bộ phận đáng kể của tài chính thuộc địa. [1]
Vì sao Trung Quốc trở thành mắt xích quyết định?
Trung Quốc có thị trường lớn, nhưng triều đình nhà Thanh cấm buôn bán thuốc phiện. Lệnh cấm không khiến hàng hóa biến mất. Thuốc phiện tiếp tục đến tay người sử dụng qua mạng lưới buôn lậu gồm thương nhân nước ngoài và những người trung gian Trung Quốc. Hoạt động này chuyển từ thương mại công khai sang một hệ thống dựa trên khả năng né tránh sự kiểm soát của nhà nước. [1]
Thị trường Trung Quốc còn quan trọng vì Anh mua nhiều trà, lụa và đồ sứ, trong khi hàng hóa Anh không bán được tương xứng tại Trung Quốc. Sự mất cân bằng khiến bạc chảy sang Trung Quốc. Doanh thu từ thuốc phiện giúp thương nhân thanh toán cho hàng nhập khẩu mà không phải tiếp tục dựa nhiều vào việc đưa bạc từ Anh sang. [1]
Với quan chức nhà Thanh, hậu quả không chỉ liên quan đến việc sử dụng một chất gây nghiện. Thuốc phiện làm suy yếu lệnh cấm và gắn với dòng bạc rời khỏi Trung Quốc. Năm 1839, Lin Zexu yêu cầu thương nhân nước ngoài giao nộp thuốc phiện tại Quảng Châu rồi cho tiêu hủy. Biện pháp ấy trực tiếp đụng đến lợi ích của mạng lưới thương mại mà phía Anh muốn duy trì. [1]
Khi tranh chấp hàng hóa biến thành chiến tranh
Sau vụ tiêu hủy năm 1839, chính phủ Anh đáp lại bằng quân sự. Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất kết thúc năm 1842, khi Trung Quốc phải mở thêm cảng cho thương mại Anh và nhượng đảo Hong Kong. Một tranh chấp bắt đầu từ hàng hóa bị cấm vì thế chuyển thành cuộc đấu về quyền tiếp cận thị trường và điều kiện giao thương. [1]
Gọi thuốc phiện là nguyên nhân duy nhất của cuộc chiến sẽ làm đơn giản hóa sự việc. Phía sau nó là lệnh cấm của Trung Quốc, sự mất cân bằng thương mại, nguồn thu tại Ấn Độ và quyền lợi của các thương nhân. Các yếu tố ấy bổ trợ cho nhau: bảo vệ việc bán thuốc phiện cũng đồng nghĩa với bảo vệ một hệ thống thanh toán và vị thế thương mại của Anh tại Trung Quốc. [1]
Xung đột tiếp tục trong Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai từ năm 1856 đến năm 1860, lần này Anh chiến đấu cùng Pháp. Những yêu cầu khi đó rộng hơn, bao gồm quyền tiếp xúc ngoại giao và các đặc quyền thương mại; thuốc phiện vẫn giữ vị trí trung tâm trong quan hệ giữa các bên. Sau dàn xếp, cơ hội buôn bán của nước ngoài được mở rộng và việc nhập khẩu thuốc phiện trở nên hợp pháp theo các thỏa thuận thuế quan. [1]
Đế quốc có kiểm soát được toàn bộ đường buôn bán không?
Không hoàn toàn. Tại Malwa, vùng miền trung Ấn Độ, các vương tước, chủ ngân hàng và gia đình thương nhân Ấn Độ xây dựng tuyến buôn bán riêng, đưa thuốc phiện qua Bombay. Tuyến này cạnh tranh với nỗ lực kiểm soát nguồn cung và giá cả của Công ty Đông Ấn. Hoạt động của họ bị coi là buôn lậu, nhưng đủ lớn để nhà chức trách cuối cùng phải dung nạp và thu thuế. [1]
Chi tiết ấy cho thấy nền kinh tế thuốc phiện không chỉ gồm chính quyền Anh và người tiêu dùng Trung Quốc. Nó còn bao gồm người trồng bị ràng buộc bởi các thỏa thuận sản xuất, thương nhân Ấn Độ tận dụng khoảng trống quyền lực, cùng các gia đình và ngân hàng tích lũy tài sản từ thương mại. Đế quốc áp đặt luật chơi, nhưng cũng phải điều chỉnh khi những trung tâm kinh tế châu Á chứng minh rằng họ không thể bị gạt khỏi hệ thống. [1]
Đến cuối thời Victoria, các nhà truyền giáo, nhà hoạt động nữ quyền và những người cải cách tổ chức phản đối thương mại thuốc phiện. Tranh luận khó đi đến đồng thuận vì thuốc phiện vẫn có những công dụng y học được thừa nhận. Một ủy ban hoàng gia được bổ nhiệm năm 1893 và báo cáo năm 1895, nhưng các sắp xếp cũ không bị xóa bỏ. Muốn chấm dứt buôn bán, người phản đối phải tháo rời cùng lúc các liên kết giữa ruộng đất, ngân sách, thương mại và quyền lực ngoại giao. [1]
Nhìn từ đó, thuốc phiện không phải toàn bộ nền móng của Đế quốc Anh, nhưng là một mắt xích đặc biệt dễ quan sát. Một khoản ứng trước cho người trồng, một phiên đấu giá, một chuyến hàng vượt biển và một thị trường bị cấm đã nối thành cơ chế tài chính rộng hơn. Vụ tiêu hủy năm 1839 vì vậy không chỉ là một biến cố ngoại giao; nó làm lộ ra cách lợi ích thuộc địa có thể biến một mặt hàng thành vấn đề chiến tranh. [1]