Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Đoàn thám hiểm Franklin và bí ẩn 129 người mang đồ hộp ba năm biến mất giữa Bắc Cực

· Bí ẩn

Ảnh tư liệu: Franklin's lost expedition (Unknown author Unknown author · Public domain · Wikimedia Commons)
Ảnh bìa: Unknown author Unknown author · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.

Tháng 5 năm 1859, William Hobson bước qua lớp tuyết dày trên bờ tây bắc đảo King William để cạy từng tảng đá lạnh giá của một ụ đá hoang vu. Bên trong ụ đá, ông tìm thấy mẩu giấy mang tên Victory Point Note. Bản thông điệp nhỏ bé này chính là liên lạc cuối cùng được biết của cả đoàn thám hiểm, trở thành dấu vết văn bản chính thức duy nhất xác nhận sự hiện diện của những người mất tích. [1]

Trước khi bản thông điệp ấy nằm lại trong ụ đá, hai con tàu của đoàn thám hiểm đã rơi vào cảnh kẹt băng ở eo biển Victoria, ngay sát đảo King William thuộc vùng Nunavut ngày nay. Tổng cộng 129 sĩ quan và thủy thủ đã cùng dấn thân vào chuyến hải trình định mệnh. Thế nhưng, thay vì mở lối đi qua vùng cực, cả hai con tàu đã bị những khối băng phương Bắc cô lập hoàn toàn. [1]

Điều gì đã thực sự xảy ra với họ sau những ngày tháng bị giam cầm trong băng, và vì sao một lực lượng đông đảo đến vậy lại không một ai có thể sống sót trở về? [1]

Cỗ máy tối tân của đế chế trước khi biến mất vào vịnh Baffin

Ngày 7 tháng 2 năm 1845, John Franklin chính thức nhận quyền chỉ huy đoàn thám hiểm với sứ mệnh khảo sát những đoạn cuối chưa từng được hàng hải của hành lang Tây Bắc đạo và ghi chép dữ liệu từ tính. Đồng hành cùng ông là Francis Crozier, người từng chỉ huy tàu HMS Terror trong chuyến thám hiểm Nam Cực trước đó và một lần nữa được giao lại quyền chỉ huy con tàu này. [1]

Để chuẩn bị cho chuyến đi sinh tử vào vùng băng giá, Hải quân Hoàng gia Anh đã cải tạo hai chiến hạm HMS Erebus và HMS Terror thành những công trình kiên cố. Mũi của cả hai tàu được gia cường bằng các thanh dầm lớn và bọc những tấm sắt dày để chịu được sức ép của băng. Một hệ thống sưởi bằng hơi nước bên trong cũng được thiết lập nhằm tăng sự dễ chịu cho các thủy thủ trong mùa đông vùng cực, đi kèm các khoang chứa đầy ắp đồ hộp và thực phẩm đủ dùng trong suốt ba năm. [1][3]

Sáng ngày 19 tháng 5 năm 1845, đoàn thám hiểm rời Greenhithe thuộc hạt Kent với biên chế ban đầu gồm 24 sĩ quan và 110 thủy thủ. Toàn bộ lực lượng còn lại gồm 129 con người tiếp tục tiến thẳng về vùng biển Bắc Cực. [1]

Trước khi rời cảng, Franklin nhận chỉ thị chính thức của Bộ Hải quân vào ngày 5 tháng 5 năm 1845. Trách nhiệm của vị chỉ huy đặt lên hai chiến hạm từng trải qua nhiều sóng gió, trong đó Erebus nặng 378 tấn đăng ký còn Terror nặng 331 tấn đăng ký. Cả hai tàu từng được dùng trong chuyến thám hiểm Nam Cực của James Clark Ross năm 1839–1843 trước khi bước vào hành trình phương Bắc. Đến cuối tháng 7 năm 1845, hai tàu cá voi Prince of Wales và Enterprise bắt gặp Terror cùng Erebus tại vịnh Baffin. Sau lần gặp gỡ giữa làn sương lạnh giá ấy, người châu Âu không còn thấy đoàn thám hiểm thêm một lần nào nữa. [1]

Ba nấm mồ ở Beechey và mẩu giấy nghẹt thở tại Victory Point

Mùa đông 1845–1846, đoàn thám hiểm dừng chân tại đảo Beechey. Tại đây, ba thủy thủ đã qua đời và được chôn cất. Về nguyên nhân cái chết của ba người lính này ngay trong mùa đông đầu tiên, một bài viết cho rằng họ chết vì một chủng lao tích cực. [1][7]

Đến tháng 9 năm 1846, cả Terror và Erebus đều bị kẹt trong băng ở ngoài khơi đảo King William. Những tin tức chính thức hiếm hoi ghi lại chuỗi ngày này nằm trên mẩu giấy được tìm thấy tại Victory Point, trong đó phần đầu tiên được viết vào năm 1847, sau mùa đông đầu tiên của đoàn ngoài khơi đảo King William. [1]

Thế nhưng, phần lề trống của tờ biểu mẫu nhanh chóng phải tiếp nhận những dòng cập nhật bi thảm. Mẩu giấy Victory Point ghi nhận chỉ huy trưởng John Franklin qua đời vào ngày 11 tháng 6 năm 1847. Mất mát không dừng lại ở vị thuyền trưởng lão thành; đến ngày 25 tháng 4 năm 1848, ngoài Franklin, đoàn thám hiểm đã có thêm tám sĩ quan và 15 thủy thủ khác thiệt mạng. [1]

Phần cuối của mẩu giấy, được cho là viết vào ngày 25 tháng 4 năm 1848, đánh dấu thời khắc đoàn thám hiểm buộc phải từ bỏ phương tiện duy nhất của mình. Mẩu giấy ghi rõ hai con tàu bị bỏ lại vào ngày 22 tháng 4, sau khi bị lớp băng giam giữ liên tục từ ngày 12 tháng 9 năm 1846. Khi rời bỏ hai con tàu, 105 người còn lại dưới quyền chỉ huy của Francis Crozier đã lên bờ. [1]

Quyết định rời tàu đồng nghĩa với việc họ phải bỏ lại những phương tiện từng được trang bị kỹ lưỡng nhất của Hải quân Hoàng gia. Khi vận hành máy móc, mỗi tàu có thể chạy bằng hơi nước với tốc độ 7,4 km/giờ, tương đương 4 hải lý/giờ. Thân tàu còn được bố trí các giếng sắt cho phép thu chân vịt và bánh lái vào bên trong để tránh hư hại trước sức ép của băng. Cùng với những cỗ máy đó, hơn 1.000 cuốn sách được mang theo phục vụ đời sống tinh thần của thủy thủ đoàn cũng đành chịu số phận nằm lại trong các khoang tàu. Dòng ghi chú cuối cùng trên mẩu giấy xác nhận toàn bộ đoàn thám hiểm sẽ khởi hành vào ngày 26 tháng 4 để hướng tới sông Back. [1]

Cuộc hành quân 400 cây số và lời kể bị người Anh chối bỏ

Cuộc rút lui do Crozier chỉ huy biến thành một hành trình dài khoảng 400 km hướng về phía sông Back. Theo các phát hiện khảo cổ sau này, toàn bộ những thủy thủ còn lại đều gục ngã và bỏ mạng trong cuộc hành quân khốc liệt đó. Khoảng 30 đến 40 người được cho là đã gắng gượng tới được bờ biển phía bắc của đất liền trước khi chết. Dù vậy, ngay tại điểm dừng chân cuối cùng, họ vẫn còn cách trạm tiền tiêu gần nhất của phương Tây tới hàng trăm dặm. [1]

Năm 1853, nhà tìm kiếm John Rae bắt đầu thu thập được các hiện vật và lời chứng từ người Inuit. Đến năm 1854, Rae nghe những người bản địa kể lại rằng vào khoảng năm 1850, họ từng thấy một nhóm người da trắng đi về phía sông Back. Về sau, người Inuit nhìn thấy nhiều thi thể nằm lại ở khu vực phía tây con sông này. Trong số các di vật của người đã khuất, Rae mua lại được một chiếc đĩa bạc có khắc dòng chữ «Sir John Franklin, K. C. H.». Với những bằng chứng mang về, Rae trở thành người đầu tiên gửi tin chắc chắn về số phận của đoàn thám hiểm Franklin. [2][5]

Tuy nhiên, điều gây rúng động dữ dội nhất xuất hiện vào năm 1854, khi tin tức về khả năng các thủy thủ ăn thịt đồng loại do người Inuit thuật lại ập tới nước Anh. [7][1]

Trước sự bàng hoàng của công chúng, gia đình Franklin kịch liệt bác bỏ lời kể về việc ăn thịt đồng loại và tự phái một con tàu riêng đi điều tra. Câu chuyện chính thức được giới cầm quyền dựng lên sau đó đã loại bỏ cả chi tiết ăn thịt đồng loại lẫn các nghiên cứu khoa học từ tính, tập trung toàn bộ vào việc khắc họa hình ảnh những người hùng hy sinh vì sứ mệnh. Bức tranh bi tráng đó từng khởi đầu bằng sự chuẩn bị chu đáo về hậu cần, khi tàu tiếp tế Barretto Junior đưa thêm lương thực tới Greenland vào giữa tháng 7 năm 1845. Vào thời điểm đó, Franklin viết rằng các tàu đã được cung cấp mọi loại vật tư đủ cho ba năm và vì thế rất chìm trong nước. Dấu vết về nếp sinh hoạt quy củ của các sĩ quan trong chuyến đi sau này vẫn hiển hiện dưới đáy biển, nơi một số đĩa gốm màu xanh kiểu willow được tìm thấy trên xác tàu Erebus. [7][3]

Đơn hàng bảy tuần và những mối hàn chì chảy như sáp nến

Ngày 1 tháng 4 năm 1845, nhà thầu Stephen Goldner nhận hợp đồng cung cấp vội số lượng đồ hộp cho chuyến viễn chinh. Trước thời điểm Franklin nhổ neo ra khơi, xưởng của Goldner phải chạy đua làm gấp đơn hàng lớn gồm 8.000 hộp chỉ trong vòng bảy tuần. [1]

Khoang chứa của hai con tàu tiếp nhận hơn 8.000 hộp thực phẩm bảo quản, gồm khoai tây, cà rốt, củ cải vàng và rau trộn. Tại gian bếp, đầu bếp Richard Wall, 45 tuổi quê ở Hull trên tàu Erebus, cùng John Diggle, người London 36 tuổi làm đầu bếp trên tàu Terror, lo việc ăn uống cho toàn bộ quân số,. Dù mang theo lượng rau củ đóng hộp lớn như vậy, khẩu phần hằng ngày của các thủy thủ chủ yếu vẫn chỉ gồm thịt bò muối, thịt lợn muối và cháo. [3]

Thời hạn sản xuất gấp gáp để lại dấu vết trực tiếp trên các vỏ đồ hộp. Một số hộp sau đó được phát hiện có mối hàn bằng chì rất dày, bị làm cẩu thả và chảy tràn như sáp nến. Những cuộc khám nghiệm cùng nhiều tư liệu nghiên cứu sau này nêu lên khả năng khẩu phần đồ hộp của đoàn đã bị nhiễm chì và nhiễm độc tố botulism. [1][2]

Một số nghiên cứu hiện đại cho rằng các thủy thủ không chết hết trong một thời gian ngắn. Đoàn người lụi tàn dần qua một quá trình suy kiệt đa tầng, với các nguyên nhân có thể gồm hạ thân nhiệt, nạn đói, ngộ độc chì hoặc thiếu kẽm, bệnh scorbut cùng sự phơi nhiễm khắc nghiệt trước môi trường băng tuyết. [7][1]

Hơn một thế kỷ thất bại và xác tàu Erebus dưới vịnh Queen Maud

Vùng biển băng giá dường như nuốt chửng hai con tàu Erebus và Terror, biến số phận của chúng thành nỗi ám ảnh kéo dài qua nhiều thế hệ thám hiểm phương Tây. [8]

Trong khi các nhà hàng hải châu Âu bế tắc, ký ức của cư dân bản địa vùng cực lại lưu giữ một manh mối hoàn toàn khác. Người Inuit từ nhiều đời đã kể lại rằng từng có một con tàu gỗ lớn bị chìm ở vùng biển này. Lời kể truyền khẩu từng bị phớt lờ ấy bước vào tầm ngắm của những người tìm kiếm hiện đại, mở đường cho những nỗ lực tiếp cận mới. Năm 2004, một đoàn tìm kiếm tư nhân dựa chủ yếu vào tri thức truyền thống Inuit để rà quét đáy biển, nhưng thiết bị sonar của họ không thấy xác tàu hay bất kỳ vật liệu văn hóa nào. [8][10]

Bế tắc chỉ thực sự bị phá vỡ từ năm 2008, khi cơ quan Parks Canada bắt đầu dẫn dắt sứ mệnh khảo cổ dưới nước nhằm tìm kiếm hai con tàu. [8][1][2]

Sau khi đối chiếu kỹ lưỡng các đặc điểm cấu trúc dưới làn nước buốt giá, ngày 1 tháng 10 năm 2014, các nhà chức trách chính thức công bố xác tàu được xác định là Erebus. Hơn một tháng sau, ngày 6 tháng 11 năm 2014, chiếc chuông của Erebus được thông báo đã được trục vớt thành công lên mặt nước, đưa vật chứng nguyên vẹn đầu tiên của soái hạm trở về sau gần 170 năm chìm dưới đáy biển Bắc Cực. [2]

Chiếc máy ảnh đánh rơi và bí mật của tàu Terror dưới 24 mét nước

Khoảng sáu năm trước ngày Terror được tìm thấy, người thợ săn kiêm thủy thủ Inuit tên là Sammy Kogvik từng nhìn thấy một vật bằng gỗ nhô lên khỏi mặt băng biển ở vịnh Terror. Khi ấy, Kogvik đã ôm lấy vật giống cột buồm đó để chụp ảnh lưu niệm, nhưng về đến nhà mới hay chiếc máy ảnh đã rơi mất từ lúc nào. Câu chuyện ngỡ như đã chìm vào quên lãng bỗng được Kogvik kể lại trong chuyến hải trình năm 2016 cùng tổ chức Arctic Research Foundation. Không hề gạt bỏ lời kể ấy, Schimnowski quyết định cho tàu đổi hướng, tiến thẳng vào vùng nước của vịnh Terror. [8]

Ngày 3 tháng 9 năm 2016, Arctic Research Foundation chính thức tìm thấy xác tàu Terror ở phía nam đảo King William, ngay trong lòng vịnh Terror. Nơi con tàu an nghỉ nằm cách vị trí mà giới chuyên gia suốt hơn một thế kỷ tin rằng nó bị băng nghiền nát tới khoảng 96 km về phía nam. Ở độ sâu khoảng 24 mét, Terror được ghi nhận trong tình trạng hoàn hảo. Cả ba cột buồm tuy bị gãy nhưng vẫn đứng thẳng, phần lớn các cửa hầm còn đóng chặt và đồ đạc bên trong vẫn được xếp đặt gọn gàng. Qua camera khảo sát, các nhà nghiên cứu nhìn thấy rõ phòng ăn, một số khoang ngủ, gian chứa thực phẩm với những chiếc đĩa và một hộp đồ hộp còn nguyên. [1][7][8]

Một sợi dây thừng nặng chạy qua lỗ mở trên boong tàu gợi ý rằng chiếc neo có thể đã được thủy thủ thả xuống trước khi con tàu chìm hẳn. Từ manh mối này, Jim Balsillie đưa ra giả thuyết những người sống sót từng quay trở lại boong Terror, tự tay điều khiển con tàu đi xa hơn về phương nam rồi mới chuyển sang Erebus. Giữa 24 mét nước tĩnh lặng, con tàu bọc thép của Crozier vẫn nằm đó, khép lại bí ẩn lớn nhất của những kẻ chinh phục Bắc Cực thời Victoria. [8]

Nguồn

  1. Franklin's lost expedition (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. HMS Erebus (1826) (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  3. Food on board an Arctic expedition - Wrecks of HMS Erebus and HMS Terror National Historic Site (www.pc.gc.ca, nguồn gốc)
  4. Wrecks of HMS Erebus and HMS Terror National Historic Site (www.pc.gc.ca, nguồn gốc)
  5. The search for Franklin and the discovery of the Passage, associated images (web.archive.org, nguồn gốc)
  6. Deadly winter : the life of Sir John Franklin : Beardsley, Martyn : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
  7. Franklin Expedition & The Terror: What Happened On The Ill-Fated Voyage? | HistoryExtra (www.historyextra.com, bài viết)
  8. Ship found in Arctic 168 years after doomed Northwest Passage attempt | Arctic | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
  9. The story of how the tin can nearly wasn't - BBC News (www.bbc.com, bài viết)
  10. Irish-Canadian Franklin Search Expedition, 2004 (web.archive.org, bài viết)

Ảnh bìa: Unknown author Unknown author · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.