Trải Nghiệm Sống
← Những câu chuyện

Giải mã phiến đá Rosetta: Cuộc chạy đua của Jean-François Champollion

· Nhân vật

Ảnh tư liệu: Jean-François Champollion (Léon Cogniet · Public domain · Wikimedia Commons)
Ảnh bìa: Léon Cogniet · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.

Năm 1799, tại làng Rosetta ở miền tây châu thổ, trung úy công binh Bouchard thuộc quân đội Napoléon phát hiện một phiến đá granitoid nằm bên trong bức tường một pháo đài. Ba hệ chữ trên phiến đá được khắc tuần tự từ trên xuống dưới, gồm chữ tượng hình, demotic và Hy Lạp. [3][6][4]

Khi đoàn viễn chinh trở về, Jean-Jacques Marcel đã thực hiện các bản in phiến đá đúng kích thước thật để lưu hành trong giới học giả. Nhưng khối đá gốc không đến được nước Pháp. Người Anh tịch thu phiến đá trong thỏa thuận cuối cùng cho phép số quân Pháp còn lại hồi hương. Từ năm 1802, báu vật cổ xưa này được đưa về đặt tại Bloomsbury, mở ra ưu thế nghiên cứu rất lớn cho các học giả tại London. [8][3][4]

Tại London, ông Thomas Young có thể trực tiếp xem phiến đá gốc. Trong khi đó, tại nước Pháp, ông Jean-François Champollion phải chật vật làm việc qua các bản vẽ hoặc bản khắc không phải lúc nào cũng đáng tin. Liệu một học giả nghèo khó ở tỉnh lẻ, chưa từng một lần chạm tay vào phiến đá gốc, có thể vượt qua giới tinh hoa quyền uy của học thuật châu Âu để giải mã thứ văn tự đã câm lặng suốt hơn một thiên niên kỷ? [4]

Giấc mơ Coptic của người thầy giáo nghèo

Jean-François Champollion sinh ngày 23 tháng 12 năm 1790 tại Figeac. Tại trường Dussert, sau khi học tiếng Latin và Hy Lạp, ông nhanh chóng chuyển sang học hàng loạt ngôn ngữ phương Đông gồm Hebrew, Ethiopic, Arabic, Syriac và Chaldean. [8][1]

Năm 1806, ông trình bày trước Học viện Grenoble kết luận rằng tiếng Ai Cập và tiếng Coptic thực chất là một. Trong thời gian học tập tại Paris, niềm say mê phương Đông sâu sắc đến mức ông từng mặc quần áo Arab và tự gọi mình là Al Seghir, bản dịch tiếng Arab của biệt danh le jeune. Đến năm 1808, ông bắt đầu nghiên cứu phiến đá Rosetta qua một bản sao do Abbé de Tersan thực hiện. [8][1]

Trong nghiên cứu ban đầu trên bản sao này, ông nhận ra các yếu tố tương đương trong tiếng Coptic của 15 dấu demotic trên phiến đá. Cổ ngữ này dần trở thành nỗi ám ảnh thường trực; trong một lá thư năm 1809, ông viết rằng mình chỉ mơ và nói bằng tiếng Coptic, đến mức bị nó chiếm trọn tâm trí. Trong thư gửi người anh trai, ông khẳng định muốn biết tiếng Ai Cập như tiếng Pháp, bởi công trình lớn về giấy cói sau này sẽ dựa hoàn toàn vào ngôn ngữ ấy. [1][5][8]

Cha của Champollion, ông Jacques Champollion, là người buôn sách từ vùng gần Grenoble đến định cư tại Figeac. Trong gia đình, người anh trai Jacques-Joseph từng xin tham gia cuộc viễn chinh Ai Cập năm 1798 nhưng không thành. Chiến dịch Ai Cập của Napoléon diễn ra từ năm 1798 đến năm 1801 sau đó đã góp phần khơi dậy cơn say mê Ai Cập sâu sắc tại Pháp. Dù mang hoài bão học thuật lớn, đời sống thường nhật của Champollion luôn gắn liền với cảnh chật vật, khi mức lương phụ giảng tại Grenoble chỉ có 750 franc, bằng một phần tư lương giáo sư chính thức. Thế nhưng, chính sự gắn bó sâu sắc với ngôn ngữ Coptic đã mang lại bước đi phương pháp luận then chốt: ông suy từ các giá trị âm đã biết của chữ Coptic để hiểu cách ghi âm của chữ tượng hình. [1][8][4]

Những đòn ngáng chân sau bức tường học thuật

Bên cạnh đời sống thường nhật luôn gắn liền với cảnh chật vật thiếu thốn, con đường nghiên cứu của Champollion còn liên tục đứng trước nguy cơ bị bẻ gãy bởi những biến động thời cuộc. Khi nguy cơ phải nhập ngũ ập đến, nhờ người anh trai và Fourier giúp đỡ, ông mới tránh được quân dịch với lập luận rằng công việc giải mã quá quan trọng để bị gián đoạn. Dẫu vậy, sự can thiệp ấy không thể che chở cho ông khỏi những đòn giáng tiếp theo. Tháng 3 năm 1816, hai anh em bị trục xuất khỏi Grenoble và bị quản thúc tại Figeac kéo dài cho đến tháng 4 năm 1817. [1][8]

Năm 1821, Champollion dẫn một nhóm người Grenoble chiếm thành và treo cờ tam tài thay cờ Bourbon. Hành động táo bạo này lập tức đẩy ông vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc khi bị truy tố phản quốc. [1]

Suốt một thời gian dài, nhiều học giả từng cho rằng chữ tượng hình chỉ phục vụ nghi lễ và ý niệm bí truyền, không ghi thông tin lịch sử. Lối suy nghĩ thâm căn cố đế ấy đã trói buộc tư duy của cả một thế hệ tinh hoa châu Âu, khi de Sacy, Young, Åkerblad và các học giả khác đã theo đuổi bài toán Rosetta hơn 20 năm mà vẫn chưa tìm thấy lời giải. [1][6]

Để phục vụ công cuộc khám phá, theo một nguồn tư liệu, Napoléon từng đưa theo một đội ngũ 160 nhà khoa học để nghiên cứu đền đài và kim tự tháp. Theo một nguồn tài liệu khác, đại úy François Bouchard đã phát hiện phiến đá Rosetta trong hào của pháo đài Aboukir, nơi ghi nhận sắc lệnh Memphis mang ngày 27 tháng 3 năm 196 trước Công nguyên. Bài toán văn tự cổ xưa ấy tạo nên áp lực đè nặng lên vai Champollion khi Thomas Young đã đạt những tiến bộ đầu tiên trong giải mã trước năm 1819. Thế nhưng, rào cản cay đắng nhất lại không đến từ đối thủ, mà đến từ chính người từng dìu dắt ông. Thầy cũ người Pháp của Champollion đã khuyên Young đừng chia sẻ quá nhiều phát hiện vì lo Champollion nhận công ưu tiên. [6][8][1]

Chìa khóa mang tên Cleopatra

Từng có thời điểm ông tin rằng chữ tượng hình là một hệ thống hoàn toàn đi theo bảng chữ cái, dẫu nhận định ấy về sau cho thấy chỉ đúng một phần. Đến năm 1818, qua quá trình nghiên cứu miệt mài, ông đã nhận ra một cấu trúc phức tạp hơn: một số dấu mang chức năng biểu ý, trong khi nhiều dấu khác lại mang giá trị âm. [4][9]

Lâu nay, quan niệm xem phiến đá Rosetta là tài liệu duy nhất giúp giải mã đã bỏ sót những văn bản song ngữ Hy Lạp–Ai Cập khác. Bản thân phiến đá Rosetta vốn chỉ là mảnh vỡ của một tấm bia ghi sắc lệnh của giới tư tế nhằm tôn vinh Ptolemy V. Phần tiếng Hy Lạp đọc được dễ dàng đã cung cấp đầu mối quý giá để giải hai phần chữ Ai Cập. Thế nhưng ngoài tấm bia Rosetta, những đầu mối còn gồm một đài tháp về việc miễn thuế cho tư tế và các hợp đồng mua bán viết trên giấy cói tìm thấy trong bình đất. [6][3][4]

Mảnh ghép mang tính bước ngoặt đến vào năm 1821. Khi ấy, Champollion tiếp cận bản chép văn bản tượng hình và Hy Lạp của một chiếc đài tháp do Giovanni Belzoni đưa sang Anh. Khi lần giở từng hàng ký tự, ông nhận ra tên Kliopadra nằm ngay trong khung tên hoàng gia. [9]

Khi so sánh các dấu trong tên Cleopatra và Ptolemy, Champollion nhận ra những âm chung giữa hai tên gọi này, từ đó suy ra giá trị ngữ âm của từng ký tự riêng biệt. Theo một nguồn tư liệu, hai phần demotic và tượng hình cùng ghi một ngôn ngữ là tiếng Ai Cập cổ. Điều này khẳng định nhận định từ năm 1724, khi Bernard de Montfaucon đã nêu sự cần thiết của một văn bản song ngữ để đọc chữ Ai Cập cổ. Sau khi nhận ra tên Cleopatra, Champollion đã tích lũy được giá trị chữ cái của 12 dấu tượng hình, tạo nên bước tiến căn bản để đọc thông thứ văn tự từng câm lặng hàng nghìn năm. [5][6][8][9]

Cú bứt phá từ bản vẽ của người kiến trúc sư

Ông tiếp tục phải đối mặt với một trở ngại lớn: tìm cách đọc tên của những vị pharaoh Ai Cập bằng chính tiếng Ai Cập. Việc giải mã các danh xưng ngoại bang mới chỉ là bước đầu, trong khi văn tự trên các đền đài ngàn năm của xứ sở sông Nile đòi hỏi phải đọc được chính xác những cái tên bản địa. [6]

Phần lớn các bản vẽ lưu hành ở châu Âu khi đó đều do những người hoàn toàn không hiểu chữ tượng hình thực hiện. Sự thiếu hụt chi tiết nghiêm trọng và những nét vẽ sai lệch khiến ông gặp muôn vàn khó khăn, không thể dựa vào chúng để phân tích hay đối chiếu một cách đáng tin cậy. [6]

Những bản phác họa do ông thực hiện được ghi chép cẩn trọng, tỉ mỉ đến từng đường nét và tái hiện chi tiết đến cả màu sắc nguyên bản của từng dấu tượng hình. [6]

Vào tháng 9 năm 1822, Champollion trực tiếp xem các bản sao phác họa của Huyot. Trong số những tài liệu này, ông tìm thấy bản sao khắc họa tên pharaoh Ramses ở Abu Simbel và khung tên Thutmoses từ Amada. Nhờ những chi tiết rõ ràng, chuẩn xác ấy, ông đã vượt qua trở ngại bấy lâu để đọc thông tên của các pharaoh Ai Cập bằng chính tiếng Ai Cập. [6]

Ngày 14 tháng 9 năm 1822, ở tuổi 31, Champollion chính thức bước lên khán phòng của Viện Hàn lâm Académie des Inscriptions et Belles-Lettres để công bố phát hiện của mình. [5][1]

Phía sau huyền thoại về sự bừng ngộ

Công trình giải mã của ông không hề hoàn hảo ngay từ đầu: bảng 26 chữ cái ban đầu của Champollion chỉ có mười mục đúng hoàn toàn, hai mục đúng một phần, trong khi có tới 14 mục bị sai hoặc thiếu sót. [9]

Lớp sương mù huyền thoại ấy bắt rễ từ một giai thoại truyền miệng, kể rằng năm 11 tuổi, khi được Joseph Fourier cho xem những cổ vật Ai Cập, cậu bé Champollion đã quả quyết tuyên bố một ngày nào đó sẽ đọc được thứ chữ tượng hình này. Dù câu chuyện đến thăm nhà Fourier chưa chắc có thật, Fourier sau đó thực sự trở thành một trong những người bảo trợ quan trọng nhất của ông. Ngay cả kết luận về mối quan hệ mật thiết giữa tiếng Coptic và chữ Ai Cập cổ cũng không phải một phát hiện hoàn toàn mới do ông tự tìm ra; giới học thuật châu Âu đã biết đến mối liên hệ này từ thế kỷ XVII, tiêu biểu qua các nghiên cứu của Nicolas-Claude Fabri de Peiresc. [1][8]

Theo một nguồn tư liệu, Champollion chỉ tận mắt nhìn thấy phiến đá Rosetta khi công việc giải mã gần như đã hoàn tất; trái lại, một nguồn tài liệu khác khẳng định suốt cả cuộc đời, ông chưa từng một lần nhìn thấy phiến đá ấy. [4][6]

Cả trong lúc Champollion còn sống lẫn sau khi ông qua đời, không ít học giả đã lên tiếng cáo buộc ông đạo văn vì đã không ghi nhận đầy đủ những phát hiện nền tảng của Thomas Young. Dẫu vậy, những phát hiện và kiểm chứng độc lập của các học giả kế tục đã dần dần đưa phương pháp cùng cách đọc của Champollion vượt qua các nghi kỵ, bước tới sự chấp nhận rộng rãi của nền học thuật quốc tế. [1]

Chạm vào đền đài sông Nile và trang viết cuối cùng

Năm 1824, Champollion xuất bản cuốn Précis, trình bày chi tiết các giá trị ghi âm và biểu ý trong hệ chữ tượng hình. Để tập trung nghiên cứu, ông về sống tại nhà người anh trai ở Vif, nơi có phòng ngủ và bàn làm việc dưới mái nhà để ông dành nhiều giờ mỗi ngày cho cổ vật và chữ tượng hình Ai Cập. Trong bức thư ngày 31 tháng 5 năm 1824, ông thú nhận mình định làm việc nhiều ở Vif, nhưng sự yên tĩnh của đồng quê lại khiến nhịp độ chùng xuống. Đến ngày 16 tháng 5 năm 1826, ông được bổ nhiệm làm quản thủ bộ phận cổ vật Ai Cập tại bảo tàng Charles X. [1][2][8]

Từ ngày 16 tháng 7 năm 1828 đến ngày 6 tháng 12 năm 1829, Champollion chỉ huy đoàn viễn chinh Pháp–Toscana tiến hành khảo chép minh văn trên các di tích Ai Cập. Đứng trước những đền đài nguyên bản, ông trực tiếp đọc nhiều văn bản tượng hình chưa từng được nghiên cứu trước đó và mang về một lượng lớn bản vẽ minh văn mới. [8][1]

Ngày 18 tháng 3 năm 1831, bằng một sắc lệnh hoàng gia, chiếc ghế khảo cổ học Ai Cập tại Collège de France được lập riêng để trao cho Champollion. Dẫu vậy, ông chỉ giảng được vài buổi trước khi tình trạng sức khỏe suy sụp sau chuyến đi Ai Cập buộc ông phải ngừng dạy. Ngày 4 tháng 3 năm 1832, ông qua đời tại Paris sau một cơn đột quỵ. Cuốn ngữ pháp tiếng Ai Cập cổ của ông được xuất bản sau khi ông mất dưới sự giám sát của người anh trai, hoàn tất hành trình của người từng phải lần mò qua các bản in nhòe mực khi phiến đá Rosetta bị đưa về London. [8][1][9]

Nguồn

  1. Jean-François Champollion (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
  2. HISTOIRE DU SITE - Musée Champollion (web.archive.org, nguồn gốc)
  3. Cracking codes : the Rosetta stone and decipherment : Parkinson, R. B : Free Download, Borrow, and Streaming : Internet Archive (archive.org, nguồn gốc)
  4. Key words: unlocking lost languages | Books | The Guardian (www.theguardian.com, bài viết)
  5. How Champollion Used Coptic to Decipher Hieroglyphics (www.etbtoursegypt.com, bài viết)
  6. How did Champollion decipher the Rosetta Stone and ancient Egyptian hieroglyphs? (artjourneyparis.com, bài viết)
  7. Mus�e Champollion : horaires, tarifs, incontournables de la visite, photos, oeuvres, avis... (web.archive.org, bài viết)
  8. CHAMPOLLION-Jean-Francois - INHA (web.archive.org, bài viết)
  9. GIANTS OF EGYPTOLOGY (web.archive.org, bài viết)

Ảnh bìa: Léon Cogniet · Public domain · Wikimedia Commons. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.