Năm 1945, hai chiếc la bàn hỏng khiến biên đội Chuyến bay 19 lao thẳng ra biển khơi mất tích

Khoảng 16:00 chiều ngày 5 tháng 12 năm 1945, giảng viên bay Robert F. Cox trên chiếc FT-74 đang chuẩn bị cất cánh cho một nhiệm vụ tương tự thì bất ngờ bắt được tín hiệu vô tuyến không xác định. Thời điểm đó là khoảng 40 phút sau khi biên đội ngoài biển hoàn thành bài tập ném bom. Giữa những tạp âm chập chờn, một thành viên cất tiếng hỏi số đo la bàn của Powers. Câu trả lời vọng lại đầy bối rối: Powers đáp rằng anh không biết mình đang ở đâu và cho rằng họ đã bị lạc sau khúc ngoặt cuối cùng. [1]
Khi Trung úy Cox chủ động liên lạc để hỏi sự cố, viên chỉ huy biên đội là Trung úy Charles Taylor thông báo cả hai chiếc la bàn trên máy bay của ông đều đã hỏng và ông đang cố tìm đường quay lại Fort Lauderdale. Báo cáo điều tra xác nhận khi Trung úy Cox thiết lập liên lạc với chiếc FT-28 vào khoảng 16:00, ông nhận thấy tín hiệu vô tuyến từ máy bay của Taylor đang dần mờ nhạt. Nghiêm trọng hơn, Taylor tin chắc rằng mình đang ở vùng chuỗi đảo Florida Keys nhưng lại không rõ đang ở đoạn nào và hoàn toàn không biết đường trở về căn cứ. [1][7]
Trung úy Cox lập tức thông báo về căn cứ rằng có máy bay bị lạc. Để giúp phi đội định hướng, ông khuyên Taylor đặt mặt trời bên cánh trái và bay lên phía bắc dọc theo bờ biển để về căn cứ. Thế nhưng, sự tê liệt của cả hai la bàn cùng niềm tin sai lệch về vị trí địa lý đã bắt đầu đẩy viên chỉ huy và các phi công dưới quyền rời xa đất liền,. [1]
Thiếu sót định mệnh trước giờ rời đường băng
Tại Trạm Không quân Hải quân Fort Lauderdale vào trưa ngày 5 tháng 12 năm 1945, nhiệm vụ của Chuyến bay 19 mang tên «Bài toán hoa tiêu số 1»,,. Đây là bài tập thực hành kết hợp ném bom và định vị dẫn đường mà các chuyến bay khác đã hoàn thành hoặc dự kiến thực hiện trong ngày. Hồ sơ điều tra của Hải quân Mỹ xác nhận chuyến bay huấn luyện hoa tiêu trên biển này vốn được cấp phép và lên lịch cất cánh vào 13:45 theo giờ địa phương,. Tuy nhiên, do Trung úy Taylor đến muộn nên giờ rời đường băng bị hoãn tới 14:10,. [1][7]
Thời điểm biên đội gồm 5 máy bay ném bom ngư lôi Grumman TBF Avenger cất cánh, căn cứ Fort Lauderdale ghi nhận một ngày ấm áp với nhiệt độ 67 độ F,. Gió mậu dịch tây nam giật mạnh thổi qua những đám mây cuộn dâng trên bầu trời. Điều kiện thời tiết tổng thể tại căn cứ được đánh giá là thuận lợi, với tình trạng mặt biển dao động từ trung bình đến động. Trên lộ trình bay, thời tiết xuất hiện mưa rào rải rác, trần mây hạ xuống 2.500 foot trong vùng mưa và tầm nhìn đạt từ 6 đến 8 dặm. [1][2][4]
Trước khi xuất phát, cả 5 chiếc máy bay đều đã được nạp đầy nhiên liệu. Tuy nhiên, quá trình kiểm tra trước chuyến bay phát hiện toàn bộ số phi cơ này đều bị thiếu đồng hồ bấm giờ. Thế nhưng, nội dung đàm thoại trên chuyến bay về sau lại cho thấy nhiều khả năng chính Trung úy Taylor cũng không đeo đồng hồ trong lúc đang bay. [1][5]
Sau khi cất cánh lúc 14:10, theo đúng kế hoạch, phi đội bay theo hướng 091 độ trong quãng đường 56 hải lý để tiến về Hens and Chickens Shoals thực hành ném bom tầm thấp,,. Bài diễn tập ném bom này đã được hoàn tất trên thực tế. Vào khoảng 15:00, một phi công xin phép và được lệnh thả quả bom cuối cùng xuống mục tiêu. Đó cũng là bài tập ném bom trọn vẹn cuối cùng trước khi biên đội mất liên lạc rồi mất tích tại vùng Tam giác Bermuda. [1][7]
Ảo giác địa lý biến Bahamas thành Florida Keys
Sau bài tập ném bom, theo kế hoạch định sẵn, phi đội dự kiến tiếp tục bay theo hướng 091 độ thêm 67 hải lý trước khi rẽ sang hướng 346 độ bay 73 hải lý và bay qua đảo Grand Bahama. Chặng kế tiếp của bài tập yêu cầu biên đội rẽ sang hướng 241 độ bay 120 hải lý để kết thúc lộ trình trước khi vòng trái quay về căn cứ Fort Lauderdale. Người dẫn dắt đội bay lúc này là Trung úy Charles Carroll Taylor, một chỉ huy đã tích lũy khoảng 2.500 giờ bay và phần lớn là trên các máy bay thuộc dòng Avenger. [1]
Sổ nhật ký bay của Trung úy Taylor ghi nhận chính xác 2.509,3 giờ bay cá nhân. Trước khi đến Fort Lauderdale, ông từng hoàn thành một đợt chiến đấu tại chiến trường Thái Bình Dương trên tàu sân bay USS Hancock và từng làm giảng viên bay ném bom ngư lôi tại Miami. Đáng chú ý, Taylor từng có một năm làm phi công trinh sát thuộc phi đội VS-62 đồn trú tại Key West, Florida. [7][1]
Các tái hiện sau vụ việc cho thấy những hòn đảo Taylor nhìn thấy nhiều khả năng là quần đảo Bahamas, và lúc đó Chuyến bay 19 đang ở đúng lộ trình định sẵn. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu suy đoán có thể Taylor đã bay vượt qua Gorda Cay và tới vùng đất phía nam quần đảo Abaco, rồi tưởng nhầm dải đất Abaco bên phải là Grand Bahama. Sự nhầm lẫn của Taylor thêm trầm trọng khi ông bắt gặp chuỗi đảo phía bắc Abaco có hình dáng rất giống chuỗi đảo Key West mà ông từng quen thuộc suốt một năm đồn trú,. [1][7]
Quy tắc thực hành quen thuộc tại NAS Fort Lauderdale là bất kỳ phi công nào bị lạc ở hướng nam chỉ cần quay đầu giữ mặt trời bên cánh trái rồi bay dọc bờ biển Florida lên hướng bắc. Nghĩ rằng mình đang ở ngoài khơi phía nam Florida, Taylor đã áp dụng chỉ dẫn quen thuộc này,. Nếu Chuyến bay 19 thực sự ở vùng Florida Keys như Taylor tưởng, phi đội đáng lẽ đã tiếp cận bờ biển Florida chỉ trong vòng 20 phút. [1]
Thế nhưng bờ biển Florida đã không bao giờ xuất hiện trước mũi máy bay. Theo cựu giảng viên David White, Taylor không hề ở Florida Keys mà đang ở tận cùng chuỗi đảo Bahamas. David White khẳng định rằng khi Taylor ra lệnh bay về hướng bắc, ông thực chất đang dẫn toàn bộ phi đội lao thẳng ra đại dương bao la. [8]
Bất đồng vô tuyến và bức tường kỷ luật thép
Hội đồng điều tra sau này kết luận rằng vì tin bản thân đang ở hướng căn bản hướng về Florida, Taylor trên thực tế đã dẫn đường cho cả phi đội bay xa hơn về phía đông bắc ra ngoài biển khơi. Đài chỉ huy từng khuyên phi đội bay về hướng tây để về Florida, nhưng Taylor lại rẽ sang hướng mà ông nghĩ là hướng tây, trong khi thực chất đó là hướng tây bắc gần như song song bờ biển. Đến 16:45, ông phát tín hiệu vô tuyến báo rằng cả nhóm đang bay theo hướng 030 độ trong 45 phút, sau đó sẽ bay về hướng bắc để đảm bảo không bị lạc trên Vịnh Mexico. [1]
Nhận thấy tình thế hiểm nghèo, căn cứ mặt đất yêu cầu chuyển sang tần số tìm kiếm cứu nạn 3000 kHz, nhưng Taylor đã từ chối. Ông giải thích rằng mình phải duy trì tần số hiện tại để giữ phi đội nguyên vẹn. Tuy nhiên, tần số huấn luyện mà phi đội đang sử dụng lại rất khó liên lạc do bị nhiễu từ các đài phát thanh Cuba và hiện tượng sóng mang vô tuyến. Mọi nỗ lực thiết lập liên lạc trên kênh sóng này đều không đạt yêu cầu bởi ảnh hưởng cộng hưởng từ nhiễu đài Cuba, tĩnh điện và các điều kiện khí quyển bất lợi. [1][4]
Sự bất an nhanh chóng lan rộng trong các buồng lái đi sau. Nhận thấy phi đội đang đi sai đường, Thiếu úy Bossi và Đại úy Powers từng nỗ lực liên lạc riêng để đề xuất với Taylor điều chỉnh lại hướng bay của cả nhóm. Nhưng người chỉ huy vẫn giữ nguyên phán đoán sai lầm. Vào lúc 16:56, Taylor chỉ đạo toàn đội đổi hướng bay 090 độ, đâm thẳng về hướng đông trong vòng 10 phút. Cùng thời điểm đó, một thành viên trong phi đội đã bực bội thốt lên qua sóng truyền tin rằng nếu bay về hướng tây thì họ đã có thể về tới nhà. [2][1]
Allan McElhiney nhận định rằng theo nguyên tắc của Hải quân, các phi công luôn phải theo sát người dẫn đầu đoàn bay. Bức tường kỷ luật thép ấy đã ghìm chặt bốn chiếc máy bay còn lại bám theo vệt cánh của Taylor, lao thẳng ra đại dương bao la khi bóng tối bắt đầu phủ xuống mặt biển. [1][8]
Mệnh lệnh cạn dầu giữa đại dương và vụ nổ của chiếc cứu nạn
Lúc 17:24, Charles Taylor phát sóng thông báo biên đội sẽ bay theo hướng tây 270 độ cho đến khi gặp đất liền hoặc cạn kiệt nhiên liệu, đồng thời yêu cầu kiểm tra tình hình thời tiết. Nhưng trên đất liền, các đài định vị đã nhận ra sai lầm tai hại của họ. Đến 17:50, mạng lưới định vị mặt đất xác định Chuyến bay 19 đang nằm trong bán kính 100 hải lý quanh tọa độ 29 độ Bắc, 79 độ Tây, tức ở tít ngoài khơi phía bắc Bahamas và cách rất xa bờ biển trung tâm Florida. [1]
Dù vậy, viên chỉ huy vẫn chưa thoát khỏi sự hoang mang trong định hướng. Đến 18:04, ông thông báo qua radio rằng họ vẫn giữ hướng 270 độ, nhưng vì cho rằng chưa bay đủ xa về phía đông nên có thể sẽ quay đầu bay về hướng đông một lần nữa. Khoảng 18:20, thông điệp cuối cùng của Taylor được ghi nhận yêu cầu toàn bộ phi đội siết chặt đội hình và chuẩn bị đáp xuống biển nếu không thấy đất liền. Ông ra lệnh khi chiếc máy bay đầu tiên tụt xuống dưới 10 gallon (khoảng 38 lít) nhiên liệu, tất cả các máy bay trong đội sẽ cùng đáp xuống mặt biển. [1]
Bóng tối bao trùm đại dương khi hy vọng cạn dần theo từng vạch xăng. Tài liệu của Bảo tàng Căn cứ Fort Lauderdale ghi nhận tín hiệu truyền phát cuối cùng của Chuyến bay 19 diễn ra lúc 19:04 khi Trung úy Cox nghe tín hiệu yếu dần rồi mất hẳn. Theo tính toán của Hải quân, toàn bộ lượng nhiên liệu mà các máy bay mang theo sẽ cạn kiệt hoàn toàn trước 20:00 tối hôm đó. [2][4]
Nỗ lực giải cứu lập tức biến thành một tai nạn thảm khốc khác. Lúc 19:27, chiếc thủy phi cơ Martin PBM-5 Mariner mang số hiệu BuNo 59225 cất cánh từ Trạm Banana River để tìm kiếm Chuyến bay 19, nhưng rồi cũng mất tích sau thông điệp radio thường lệ lúc 19:30. Dòng máy bay PBM này chứa tới 9,83 tấn xăng máy bay, nhưng các ống dẫn nhiên liệu linh hoạt của nó thường dễ bị lỏng ra trong điều kiện khắc nghiệt dẫn đến rò rỉ nhiên liệu. Vì nhược điểm chết người này, chiếc PBM Mariner bị đặt biệt danh là «bình gas bay», bởi chỉ cần một tia lửa điện nhỏ hay một que diêm quẹt sáng cũng có thể gây ra thảm họa phát nổ. [1][5]
Điều tồi tệ nhất thực sự đã xảy ra trên không trung đêm đó. Lúc 21:15, tàu chở dầu SS Gaines Mills báo cáo đã quan sát thấy ngọn lửa từ một vụ nổ bốc cao 100 foot và cháy trong 10 phút tại vị trí 28 độ 35 phút Bắc, 80 độ 15 phút Tây. Thuyền trưởng Shonna Stanley của tàu chở dầu SS Gaines Mills báo cáo đã nỗ lực tìm kiếm người sống sót qua một vũng dầu loang và xăng máy bay nhưng không tìm thấy ai. [1]
Báo cáo 500 trang và cuộc chiến của người mẹ
Tàu sân bay hộ tống USS Solomons cũng ghi nhận việc mất dấu vết radar của một máy bay tại đúng thời điểm và vị trí xảy ra vụ nổ mà tàu hàng nhìn thấy. Ngay sau đó, Hải quân Mỹ phát động chiến dịch tìm kiếm hòa bình lớn nhất lúc bấy giờ. Lực lượng tìm kiếm cứu nạn đã bao phủ hơn 200.000 dặm vuông trên Đại Tây Dương và Vịnh Mexico, đồng thời rà soát cả đất liền Florida để tìm tung tích Chuyến bay 19. Riêng Hải quân Mỹ đã huy động tới 248 máy bay xuất kích cùng 18 tàu mặt nước, bao gồm cả tàu sân bay USS Solomons. [1][2]
Đại úy Frank Dailey lái thủy phi cơ PBY nhớ lại rằng trong ba ngày liên tiếp, mỗi ngày 6 giờ, họ rà soát dọc toàn bộ bờ biển Florida nhưng không phát hiện bất kỳ mảnh vỡ nào. Đến tối ngày 10 tháng 12 năm 1945, chiến dịch tìm kiếm quy mô lớn đã chấm dứt do điều kiện thời tiết xấu đi đến mức gây nguy hiểm cho các đội cứu nạn. Tài liệu của Trung tâm Lịch sử Hải quân xác nhận phi đội không bao giờ liên lạc lại, không dấu vết máy bay nào được tìm thấy và giả định họ đã hạ cánh bắt buộc xuống biển. [2][4]
Báo cáo điều tra chính thức xác định nguyên nhân mất tích của chiếc thủy phi cơ cứu nạn PBM-5 số hiệu 59225 là do một vụ nổ trên không. Do các nguy cơ phát nổ và rò rỉ nhiên liệu nguy hiểm, Hải quân Mỹ đã ngừng sản xuất dòng thủy phi cơ PBM Mariner vào năm 1949. [1][5]
Hải quân sau đó lập một bản báo cáo điều tra dài 500 trang. Báo cáo kết luận Trung úy Taylor đã nhầm lẫn các đảo nhỏ ngoài khơi với chuỗi đảo Florida Keys sau khi la bàn hỏng. Tài liệu này khẳng định Taylor đã bay qua Bahamas đúng lịch trình, nhưng sau đó chính ông đã dẫn phi đội bay về hướng đông bắc ra biển Đại Tây Dương. Ban đầu, hội đồng điều tra đã kết luận Trung úy Taylor «mắc chứng rối loạn tâm thần» dẫn đến tổn thất máy bay và con người. [1][2]
Mẹ của Taylor, bà Katherine Taylor, đã kịch liệt phản đối kết luận trên. Bà cho rằng Hải quân đổ lỗi bất công cho con trai bà khi không hề có thi thể hay xác máy bay làm bằng chứng. [1]
Khởi sinh huyền thoại Tam giác Bermuda và sự thật đáy sâu
Hải quân Mỹ sau đó đã sửa lại nguyên nhân vụ tai nạn trong báo cáo thành «không rõ nguyên nhân» để tránh đổ lỗi cho Taylor về sự mất tích của 5 máy bay và 14 người. Đến năm 1947, Hội đồng Điều chỉnh Hồ sơ Hải quân chính thức minh oan cho Trung úy Charles Taylor khỏi trách nhiệm đối với sự mất mát nhân mạng và máy bay. Dẫu vậy, khoảng trống hồ sơ ấy tiếp tục thổi bùng trí tưởng tượng của dư luận khi tên gọi «Tam giác Bermuda» ra đời vào tháng 8 năm 1964, do Vincent Gaddis đặt ra trong bài viết trên tạp chí Argosy về sự biến mất của Chuyến bay 19. Nhìn nhận về những vụ mất tích bí ẩn tại vùng biển này, nhà sử học John Reilly so sánh việc tàu bay mất tích tại Tam giác Bermuda cũng giống như tai nạn xe hơi thường xuyên xảy ra trên xa lộ New Jersey Turnpike đông đúc. Đại diện Tuần duyên Mỹ cũng tuyên bố rằng sự khắc nghiệt của thiên nhiên cùng tính chất khó lường của con người trong thực tế thường vượt xa các câu chuyện khoa học viễn tưởng. [1][2][5]
Tam giác Bermuda là một trong hai nơi hiếm hoi trên thế giới, cùng với Biển Quỷ ở Nhật Bản, nơi cực bắc thực và cực bắc từ thẳng hàng, hiện tượng rất dễ gây sai lệch số đọc la bàn. Dưới mặt nước, chuyên gia hải dương học Dave Feit giải thích rằng trong điều kiện khí quyển thích hợp, dòng hải lưu Gulf Stream có thể tạo ra những đợt sóng cao bất thường gấp hai đến ba lần sóng ngoài luồng. Đáy biển khu vực Tam giác Bermuda sâu khoảng 19.000 foot, riêng rãnh Puerto Rico sâu tới 27.500 foot (8.229 m), khiến các xác máy bay chìm sâu không để lại dấu vết. Năm 1991, một đoàn thám hiểm do Graham Hawkes dẫn đầu từng tuyên bố tìm thấy xác 5 chiếc Avenger ngoài khơi Florida. Chiếc máy bay đầu tiên mà nhóm của Hawkes phát hiện mang số đuôi 28 trùng với số máy bay của Taylor, nhưng Hải quân Mỹ thường tái sử dụng các số hiệu đuôi của máy bay bị mất, và số hiệu đuôi trên những chiếc còn lại chứng minh đó không phải Chuyến bay 19,. Nhà khảo cổ học Ted Darcy cho rằng cụm 5 chiếc Avenger do nhóm Hawkes phát hiện nằm ở bãi tập thả ngư lôi tầm thấp cũ và từng chiếc đã rơi vào các thời điểm khác nhau. [5][1][6]
Năm 1989–1990, một đài tưởng niệm Chuyến bay 19 được dựng tại Fort Lauderdale gắn một cánh quạt máy bay TBM Avenger trên đỉnh đài. Hơn bốn mươi năm sau buổi chiều định mệnh khi những đợt sóng vô tuyến yếu dần rồi tắt lịm ngoài biển khơi, đại dương sâu thẳm vẫn không trả lại một mảnh vỡ nào của phi đội. Cánh quạt kim loại vươn thẳng lên nền trời Florida lộng gió, lặng lẽ khép lại câu chuyện về chuyến bay huấn luyện không bao giờ trở về. [3]
Nguồn
- Flight 19 (Wikipedia) (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Flight 19 the Lost Avengers - Naval Air Station Fort Lauderdale Museum (web.archive.org, nguồn gốc)
- NAS Fort Lauderdale History - (web.archive.org, nguồn gốc)
- Flight 19 (web.archive.org, nguồn gốc)
- Bermuda Triangle: Behind the Intrigue (web.archive.org, bài viết)
- Mystery of Bermuda Triangle Remains One - NYTimes.com (web.archive.org, bài viết)
- HyperWar: Findings of the Board of Investigation Into the Loss of Flight 19 (Bermuda Triangle) (web.archive.org, bài viết)
- Flight 19 crew honored by House; disappearance began notion of Bermuda Triangle (web.archive.org, bài viết)
- Monument to crew lost during Flight 19 search will be dedicated April 11 at Patrick | Stripes | vieravoice.com (www.vieravoice.com, bài viết)
Ảnh bìa: WWII in View · Public domain · Flickr. Bố cục và chữ do Trải Nghiệm Sống thực hiện.