Thuộc địa Mất tích Roanoke đã đi đâu khi con tàu năm 1590 chỉ còn thấy chữ CROATOAN?

Năm 1590, một con tàu ghé hòn đảo ngoài khơi và thấy khu định cư của người Anh đã bị bỏ lại, không còn một bóng người. Những người sống ở đó đã đặt chân lên đảo từ năm 1587, dưới sự dẫn dắt của John White, và khu định cư ấy được nhớ đến với tên Lost Colony, tức Thuộc địa Mất tích, thuộc địa Roanoke thứ hai. [1]
Trên hàng rào cọc gỗ dựng để phòng thủ, người ta thấy chữ CROATOAN khắc vào thân gỗ. White đọc dòng chữ ấy như một lời nhắn: những người định cư đã chuyển tới đảo Croatoan, hòn đảo mang tên một tộc người bản địa nói tiếng Algonquian. [1]
Vậy mà White chưa kịp lần theo dấu vết đó. Biển động và một chiếc neo bị mất buộc chuyến đi phải quay về Anh. [1]
Hai chiếc thuyền buồm và cửa biển mang tên viên hoa tiêu
Thuộc địa Roanoke là nơi Sir Walter Raleigh hai lần tìm cách lập khu định cư lâu dài đầu tiên của người Anh ở Bắc Mỹ. [1]
Hạm đội có hai chiếc barque, loại thuyền buồm cỡ nhỏ hoặc vừa. Philip Amadas làm thuyền trưởng chiếc lớn hơn, với Simon Fernandes là hoa tiêu, còn chiếc kia do một người khác chỉ huy. Ngày 13 tháng 7 năm 1584, đoàn tàu cập bờ tại một cửa biển nằm ở phía bắc đảo Hatorask. Người tìm ra cửa biển ấy là Fernandes. Nơi này được đặt tên Port Ferdinando theo tên viên hoa tiêu. [1]
Ngày 9 tháng 4 năm 1585, một đoàn tàu rời cảng Plymouth, xuôi về phía nam qua vịnh Biscay. Theo dự tính, số dân thuộc địa là 69 người, nhưng chuyến đi năm 1585 đưa theo khoảng 600 người đàn ông. Chừng một nửa trong số đó được dự kiến ở lại thuộc địa, còn một đợt người thứ hai sẽ sang sau. [1]
Tàu Tiger mắc cạn, rồi một chiếc cốc bạc biến mất
Đoàn tàu gồm bảy chiếc, dẫn đầu là Tiger, soái hạm của Grenville, với Fernandes làm hoa tiêu. Tiger là một chiếc galleass, loại chiến thuyền lớn chạy được cả bằng buồm lẫn mái chèo. Đi cùng có chiếc flyboat Roebuck, kiểu tàu buồm nhẹ đáy bằng của Hà Lan chuyên chở hàng, và chiếc Elizabeth. Chiếc Red Lion do George Raymond chỉ huy, còn Dorothy là tàu riêng của Raleigh, có lẽ do Arthur Barlowe làm thuyền trưởng. Đoàn còn có hai chiếc pinnace, loại thuyền nhỏ đi theo tàu lớn để tiếp ứng, đưa tin hay do thám. [1]
Chiếc soái hạm của Grenville va phải một bãi cạn, chỗ biển nông như doi cát mà tàu thuyền nào cũng sợ, và phần lớn lương thực mang theo bị hỏng. Tiger suýt vỡ tan. Còn Red Lion để lại khoảng ba mươi người trên đảo Croatoan, hòn đảo mang tên tộc người Croatan nói tiếng Algonquian ở dải đảo ven biển này. Rồi con tàu rời đi Newfoundland để săn tàu đối phương, lối làm ăn của tàu tư nhân được chính quyền cấp phép tấn công và bắt giữ tàu địch. [1]
Sau chuyến thăm dò đầu tiên, có tin một chiếc cốc bạc bị mất. Tin rằng chiếc cốc đã bị lấy trộm, Grenville cử Amadas dẫn một toán người quay lại làng Aquascogoc để đòi trả. Dân làng không đưa ra được chiếc cốc, và người Anh quyết rằng phải trừng phạt thật nặng để khỏi bị coi là yếu thế. Amadas và toán người đi cùng đốt trụi cả làng cùng hoa màu của làng, dân làng phải bỏ chạy. [1]
Năm 1585, Thống đốc Ralph Lane lập thuộc địa Roanoke trên đảo Roanoke, nay thuộc hạt Dare, bang North Carolina. Ngày 25 tháng 8 năm 1585, Grenville lên chính chiếc Tiger từng suýt vỡ trên bãi cạn để trở về Anh. Theo sổ sách, 107 người đàn ông ở lại thuộc địa cùng Lane. [1]
Đập cá bị phá và cơn bão cuốn tàu Francis ra khơi
Trên đảo, Pemisapan đưa người Secotan, một tộc người bản địa nói tiếng Algonquian ở vùng ven biển North Carolina, rời khỏi Roanoke. Pemisapan còn cho phá các đập cá, tức những hàng cọc, sậy hay lưới cắm dưới nước để bẫy cá, và ra lệnh cho người Secotan không được bán lương thực cho người Anh. Ngày 20 tháng 4, Ensenore qua đời, và trong vòng thân cận của Pemisapan, thuộc địa mất đi người cuối cùng còn lên tiếng bênh vực mình. [1]
Tháng 6 năm 1586, những người ở thuộc địa liên lạc được với hạm đội của Sir Francis Drake, khi ấy đang trên đường về Anh sau những chiến dịch thắng lợi ở Santo Domingo, Cartagena và St. Augustine. Biết những rủi ro mà thuộc địa đã gặp, Drake nhận để lại đồ tiếp tế đủ dùng trong bốn tháng cùng một chiếc tàu của mình, chiếc Francis. [1]
Nhưng một trận cuồng phong đã đổ vào Outer Banks, chuỗi đảo chắn dài và hẹp chạy dọc bờ biển North Carolina. Chiếc Francis bị cuốn ra biển. Sau cơn bão, Lane thuyết phục người của mình bỏ thuộc địa mà đi, và Drake đồng ý chở họ về Anh. Ba người của Lane bị bỏ lại trên đảo, và từ đó không ai còn nghe tin gì về họ. [1]
Tháng 7 năm 1586, hạm đội của Drake cùng những người của Lane về tới Anh. Chuyến trở về ấy không đến tay không: khi đặt chân lên đất Anh, những người từng sống ở Roanoke đã đưa thuốc lá, ngô và khoai tây vào nước Anh. [1]
Con tàu tiếp tế đến muộn vài ngày
Hạm đội của Drake vừa đưa những người định cư rời Roanoke được vài ngày thì một con tàu tiếp tế do Raleigh gửi tới cập đảo. Hai tuần sau, hạm đội cứu viện của Grenville cuối cùng cũng tới, chở theo lương thực đủ dùng trong một năm cùng 400 người tăng viện. [1]
Trong một lần ghé đảo để kiểm tra những người của Grenville, Simon Fernandes, hoa tiêu của con tàu, buộc White và những người định cư đi cùng ông phải ở lại Roanoke. [1]
Hoà vào làng bản địa hay bị tàn sát: hai lời giải chưa có bằng chứng
Ngay từ năm 1605, đã có những bài viết phỏng đoán rằng những người định cư ở Roanoke đã hòa vào các bộ tộc người Mỹ bản địa sống gần đó. Cũng có những câu chuyện kể rằng người ta trông thấy những người mang nét mặt châu Âu trong các làng của người bản địa. [1]
Còn những người thực dân ở Jamestown, một thuộc địa Anh ở Virginia, từng điều tra và đưa về những báo cáo cho rằng nhóm người ở Roanoke bị tàn sát. Nhưng cả hai hướng đều không tìm được bằng chứng xác đáng nào. [1]
Chiếc nhẫn khắc sư tử trong đống phế liệu ở Cape Creek
Ở Buxton, thuộc hạt Dare, vùng đất gồm đảo Roanoke và phần lớn dải Outer Banks của Bắc Carolina, có một khu di chỉ tên Cape Creek, nơi con người đã sinh sống ít nhất từ năm 400. Khoảng năm 800, Cape Creek trở thành thủ phủ của người Croatan, một dân tộc bản địa nói tiếng Algonquian ở Outer Banks, và vẫn là thị trấn chính của họ cho tới năm 1759. Năm ấy, Arthur Dobbs, thống đốc do vương triều Anh bổ nhiệm, trao thị trấn cùng khoảng 81 hecta đất xung quanh cho người Hatteras. Hatteras là cái tên mà người thực dân Anh dùng để gọi chính người Croatan. [2]
Cape Creek được đào thăm dò năm 1983, rồi thêm một lần nữa trong hai năm 1995–1996. Dự án khai quật lớn bắt đầu năm 1997, với tiền của hai quỹ từ thiện tư nhân là Richard J. III and Marie M. Reynolds Foundation và Michael Kelly Foundation, cùng nhiều nhà hảo tâm. Người điều hành Dự án Khảo cổ Croatan là David Sutton Phelps, giáo sư danh dự của Đại học East Carolina, một trường công ở Greenville, Bắc Carolina. Mùa thu năm 1998, trong đợt khai quật do Phelps chỉ huy, nhóm tìm thấy một chiếc nhẫn giữa đống phế liệu quanh một xưởng thủ công kiêm nơi trao đổi hàng của người bản địa, có niên đại khoảng 1650–1715. Niên đại của xưởng được xác định nhờ những đồng xu và những miếng niêm chì buộc trên kiện hàng từ thập niên 1670, cùng nhiều hiện vật khác. [2]
Đó là một chiếc nhẫn ấn, loại nhẫn có mặt khắc hình để ép dấu lên sáp. Trên mặt nhẫn là huy hiệu «lion passant», tức con sư tử đang bước, một chân trước giơ lên. Chiếc nhẫn nhỏ xíu, dài 0,75 inch, rộng 0,5 inch, dày 0,25 inch và chỉ nặng 0,25 ounce. Phelps tin rằng chiếc nhẫn khắc sư tử này có từ thế kỷ 16. Phần đai nhẫn phủ một lớp gỉ dày, đoạn còn sót lại mòn mỏng như tờ giấy, còn phần lớn đã gãy mất; nhiều khả năng chiếc nhẫn đã là một vật gia truyền khi bị bỏ đi. [2]
Năm 2017, Phòng thí nghiệm Bảo tồn Queen Anne's Revenge thuộc Sở Tài nguyên Thiên nhiên và Văn hóa Bắc Carolina đem chiếc nhẫn đi kiểm tra bằng một máy pXRF Bruker Tracer III-SD. Đây là loại máy cầm tay dùng tia X để nhận ra các nguyên tố hóa học trong một vật mà không làm hỏng vật đó. Phổ đo được trên chiếc nhẫn là phổ điển hình của đồng thau, thứ hợp kim pha giữa đồng và kẽm. Không có chút vàng nào, cả trong hợp kim lẫn ở lớp mạ bề mặt. Nếu từng có lớp mạ vàng, mọi dấu vết còn sót lại lúc chiếc nhẫn được tìm thấy năm 1998 cũng đã mất sau khi nó được đánh bóng. [2]
Vì chiếc nhẫn làm bằng đồng thau chứ không phải vàng, tiến sĩ Ewen cho rằng có thể nó từng là một món hàng trao đổi. Ewen cũng cho rằng chiếc nhẫn nhiều khả năng ra đời vào đầu thế kỷ 17, khó có thể từ thế kỷ 16. [2]
Năm 1998, Cape Creek còn trả lại một hiện vật thứ hai: một bộ khóa nòng súng hỏa mai thuộc cơ cấu snaphance của Anh, từ cuối thế kỷ 16 hoặc đầu thế kỷ 17. Snaphance là kiểu khóa súng đời đầu, trong đó viên đá lửa đập vào thép để tóe tia lửa, đốt liều thuốc súng. Charles Heath, một học viên cao học từng làm việc ở Cape Creek trong đợt khai quật năm 1998 cùng Phelps, cho rằng bộ khóa nhiều khả năng có từ đầu thế kỷ 17 hơn là cuối thế kỷ 16, dù chưa thể loại hẳn khả năng nó thuộc thế kỷ 16. [2]
Lời đồn về nhà Kendall: họ đến cùng Lane, không cùng White
Nhóm nghiên cứu do Phelps dẫn dắt lần ra rằng hình sư tử chồm bước trên mặt chiếc nhẫn chính là huy hiệu mà dòng họ Kendall dùng vào thế kỷ 16. Cái tên ấy được báo chí gắn với Thuộc địa Mất tích, tức đoàn di dân thứ hai lên Roanoke năm 1587 mà người đến sau chỉ thấy nơi ở bỏ trống, và nhiều bài viết đã suy đoán về mối dây nối nhà Kendall với đoàn người này. Nhưng trong đoàn năm 1587 không có người nào thuộc nhà Kendall. [2]
Có hai người mang họ Kendall từng gắn với Roanoke, nhưng họ thuộc thuộc địa của những năm 1585–1586, tức thuộc địa của Ralph Lane. Người thứ nhất được ghi tên là "Master" Kendall, một trong những quý ông trong ban giám sát của Lane. Mùa xuân năm 1586, "Master" Kendall có thể là một trong hai mươi người được cử sang sống một tháng ở Croatan, hòn đảo mang tên người Croatan nói tiếng Algonquian ở dải Outer Banks. [2]
Người thứ hai là Abraham Kendall, một thuyền trưởng trong hạm đội của Sir Francis Drake. Ông có mặt trong hạm đội ấy vào lúc nó thả neo vài ngày ở Croatan, trước khi đưa cả đoàn của Lane trở về Anh. [2]
Từ cuốn sử của Bancroft đến vở kịch ngoài trời Roosevelt đến xem
Năm 1819, Tổng thống James Monroe tới thăm khu đất Fort Raleigh, tên gọi khu công sự đắp bằng đất trên đảo Roanoke. Sự quan tâm tới câu chuyện này về sau lắng dần, cho tới năm 1834, khi George Bancroft đưa nó vào cuốn A History of the United States của mình. Bancroft dựng những người khai hoang thành nhân vật khởi đầu của văn hóa Mỹ, nhất là Virginia Dare, đứa cháu gái còn đỏ hỏn của White, và cách kể ấy cuốn hút công chúng. [1][3]
Đầu thế kỷ 20, Sallie Southall Cotten, người lập Hội Tưởng niệm Virginia Dare Columbian năm 1892, viết truyền thuyết lịch sử The White Doe, tức «Con nai cái trắng». Truyện kể về Virginia Dare, đứa trẻ đầu tiên có cha mẹ người Anh chào đời ở Bắc Mỹ, cùng số phận bí ẩn của cô, nay đã quấn chặt với hình ảnh một con nai cái trắng. Theo lời kể trong truyện, Virginia bị Chi-co, một chàng trai bị cô khước từ, dùng phép phù thủy biến thành nai trắng, và cô chết thảm khi tìm cách làm lành với người mình yêu là O-kis-ko. [3][4]
Năm 1884, Thượng nghị sĩ bang North Carolina Zebulon B. Vance đưa ra Quốc hội Mỹ, cơ quan lập pháp liên bang, một dự luật xin 30.000 đô la để mua một mảnh đất nhỏ ở Fort Raleigh làm nơi dựng tượng đài. Năm 1894, Hội Tưởng niệm Thuộc địa Roanoke, một hội tư nhân lập ra để mua và trông nom khu di tích, quyên tiền mua khoảng 105 héc-ta đất của gia đình Dough, trong đó có mảnh đất chứa công sự. Trước đó, năm 1849, Thomas A. Dough đã nhận giấy cấp đất chính thức của bang North Carolina để xác lập quyền sở hữu khu đất. Đến năm 1895, những đợt khảo cổ đầu tiên ở Fort Raleigh đã bắt đầu, và Talcott Williams, một nhà báo New York chuyển sang làm khảo cổ, xác nhận đây là một pháo đài châu Âu thời khai thuộc. Ngày 24 tháng 11 năm 1896, hội làm lễ khánh thành khu Fort Raleigh. [3]
Ngày 24 tháng 6 năm 1936, Tổng thống Roosevelt ký ban hành một đạo luật cho phép bán những đồng nửa đô la tưởng niệm thuộc địa mất tích. Mùa diễn đầu tiên của vở kịch The Lost Colony do Paul Green viết, từ ngày 4 tháng 7 tới Ngày Lao động năm 1937, tức thứ Hai đầu tiên của tháng 9, có năm mươi nghìn người tới xem. Ngày 18 tháng 8 năm 1937, Roosevelt đến xem vở kịch ngoài trời, đọc một bài diễn văn về tầm quan trọng của nguyên tắc đa số trong nền dân chủ, và ký đạo luật cho phép lập Khu bờ biển Quốc gia Cape Hatteras. [3]
Ngày 5 tháng 4 năm 1941, quyền Bộ trưởng Nội vụ Mỹ, người tạm đứng đầu bộ liên bang phụ trách các công viên quốc gia, ra lệnh lập Di tích Lịch sử Quốc gia Fort Raleigh. Ngày 21 tháng 7 năm 1941, Cơ quan Công viên Quốc gia, cơ quan liên bang quản lý các công viên và di tích quốc gia của Mỹ, bắt đầu quản lý khu di tích. Năm 1947, một nhà khảo cổ bắt đầu đào khu công sự đất và tìm thấy nhiều hiện vật thời Elizabeth, giai đoạn nữ hoàng Elizabeth I trị vì nước Anh. [3]
Năm 1950, khu công sự được đắp lại theo kích thước và hình dáng gần đúng với nó vào năm 1585. Theo số liệu được nguồn ghi là hiện thời nhưng không nêu năm, Di tích Lịch sử Quốc gia Fort Raleigh đón khoảng 275.000 lượt khách mỗi năm, nhiều người trong số đó mong giải được bí ẩn của thuộc địa mất tích. [3]
Nguồn
- Roanoke Colony — Wikipedia (en.wikipedia.org, bách khoa)
- Croatan Archaeological Site Collection (digital.lib.ecu.edu, nguồn gốc)
- Commemorating Fort Raleigh (U.S. National Park Service) (www.nps.gov, nguồn gốc)
- The white doe : the fate of Virginia Dare, an Indian legend by Cotten (www.gutenberg.org, nguồn gốc)
Ảnh minh hoạ: Uncredited, giấy phép Public domain, qua Wikimedia Commons; ảnh được cắt và thêm chữ.